<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Trần Ngọc Thơ &#8211; Kinh Tế Bất Động Sản</title>
	<atom:link href="https://kinhtebatdongsan.vn/tag/tran-ngoc-tho/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kinhtebatdongsan.vn</link>
	<description>Real Estate Economics</description>
	<lastBuildDate>Sat, 02 Oct 2021 12:25:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=5.4.19</generator>

<image>
	<url>https://kinhtebatdongsan.vn/wp-content/uploads/2023/11/ICON-75x75.png</url>
	<title>Trần Ngọc Thơ &#8211; Kinh Tế Bất Động Sản</title>
	<link>https://kinhtebatdongsan.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phục hồi nền kinh tế: Các lựa chọn chính sách nào cho Việt Nam? (Bài 1)</title>
		<link>https://kinhtebatdongsan.vn/phuc-hoi-nen-kinh-te-cac-lua-chon-chinh-sach-nao-cho-viet-nam-bai-1/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đầu tư BĐS]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 Oct 2021 12:25:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tế]]></category>
		<category><![CDATA[Chính sách tài khó]]></category>
		<category><![CDATA[featured]]></category>
		<category><![CDATA[Phục hồi kinh t61]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Ngọc Thơ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://kinhtebatdongsan.vn/?p=2674</guid>

					<description><![CDATA[Để các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp có hiệu quả, doanh nghiệp nhận hỗ trợ cũng phải có khả năng thay đổi để phục hồi. Chính sách kinh tế cũng phải thay đổi trong môi trường mới này. Đại dịch Covid-19 vẫn chưa biết lúc nào kết thúc, mọi thứ phía trước vẫn còn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Để các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp có hiệu quả, doanh nghiệp nhận hỗ trợ cũng phải có khả năng thay đổi để phục hồi. Chính sách kinh tế cũng phải thay đổi trong môi trường mới này.</p>
<p>Đại dịch Covid-19 vẫn chưa biết lúc nào kết thúc, mọi thứ phía trước vẫn còn bất định. Tuy nhiên, một điều mà chúng ta biết chắc chắn sẽ xảy ra, đó là hành vi kinh doanh và tiêu dùng sẽ thay đổi vĩnh viễn hậu đại dịch. <a href="https://baodautu.vn/doanh-nghiep-d3/" target="_blank" rel="noopener">Doanh nghiệp</a> đang rất cần sự hỗ trợ khẩn cấp của Nhà nước. Nhưng để các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp có hiệu quả, doanh nghiệp nhận hỗ trợ cũng phải có khả năng thay đổi để phục hồi. Chính sách <a href="https://baodautu.vn/thoi-su-d1/" target="_blank" rel="noopener">kinh tế</a> cũng phải thay đổi trong môi trường mới này.<strong> </strong></p>
<p><strong>Bài 1: Chính sách tài khóa, tiền tệ: Cần dám bước ra khỏi vùng an toàn </strong></p>
<p>Làn sóng Covid-19 lần thứ tư kéo dài đến nay đã vượt quá sức chịu đựng của người dân, người lao động và doanh nghiệp, giống như thể trạng con người đang dần cạn oxy. Các nhà điều hành cần phải tìm ra những giải pháp đột phá để “bơm oxy” cứu doanh nghiệp nhanh nhất vào thời điểm này.</p>
<p><strong>“Hợp nhất” bảng cân đối kế toán của <a href="http://infomoney.vn/" target="_blank" rel="noopener">ngân hàng</a> trung ương và Bộ <a href="https://baodautu.vn/tai-chinh-bao-hiem-d6/" target="_blank" rel="noopener">Tài chính</a></strong></p>
<p>Dù tiếp cận theo cách “làm bất kỳ điều gì có thể”, với tư cách là một ngân hàng trung ương (NHTW), các công cụ chính sách tiền tệ vẫn gặp phải rào cản thể chế nếu không được hỗ trợ bởi các công cụ của chính sách tài khoá. Rào cản pháp lý của các NHTW trên toàn thế giới là không được can thiệp các hoạt động có rủi ro tạo nợ xấu, để rồi sau đó phải lấy tiền thuế của người dân bù vào.</p>
<p>Tương tự ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng cần được Quốc hội trao đủ thẩm quyền để thực hiện các hoạt động giải cứu có nguy cơ tạo ra nhiều nợ xấu. Để ứng phó với đại dịch, các giải pháp chính sách tài chính đề xuất trong bài viết này hàm ý là một thể thống nhất, được cấp có thẩm quyền cho phép (có thể là một nghị quyết đặc biệt của Quốc hội), chỉ tồn tại trong một giai đoạn nhất định, bao gồm chính sách tài khoá, tiền tệ và các chính sách phí và lệ phí khác có liên quan ở các bộ, ngành.</p>
<p>NHTW và Bộ Tài chính nhiều nước đều có bảng cân đối kế toán riêng, nhưng để ứng phó khẩn cấp với cú sốc Covid-19, chúng đang dần được hợp nhất thành bảng cân đối kế toán chung của Chính phủ. Sự phân biệt ranh giới rõ ràng giữa chính sách tài khoá và tiền tệ ngày càng ít cần thiết hơn trong khi xử lý các tình huống khẩn cấp.</p>
<p>Đại dịch Covid-19 giống một đám cháy rừng lan rộng. Liệu có nên đặt vấn đề thảm hoạ nguồn nước để không dập tắt đám cháy ngày càng lan rộng? NHTW có tiếng độc lập nhất trên thế giới như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng đang chuyển hoá dần thành ngân hàng nhà nước theo đúng nghĩa đen của từ này. Việt Nam đang sẵn có NHNN độc lập tương đối và Bộ Tài chính, tất cả đều trực thuộc Chính phủ, lại càng có cơ hội thuận lợi hơn để sáng tạo các công cụ chính sách kết hợp nhằm giải cứu doanh nghiệp.</p>
<p><strong>Không gian tài khoá Việt Nam vẫn còn đủ mạnh để làm tốt hơn, so sánh với các nước ASEAN</strong></p>
<p>Giai đoạn 5 năm tài khoá Việt Nam 2016 &#8211; 2020, bội chi ngân sách bình quân khoảng 3,6% GDP, thấp hơn mức mục tiêu 3,9% GDP của Quốc hội. Dư nợ công đến nay khoảng 55,3% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 49,1% GDP và dư nợ nước ngoài khoảng 47,3% GDP, tất cả đều thấp hơn mức trần quy định tương ứng là 65% GDP, 54% GDP và 50% GDP. Không gian tài khoá như vậy vẫn còn, cho dù rất hạn hẹp, phần nào cũng đủ giúp cơ quan tài khoá tăng thêm trần nợ công và thâm hụt ngân sách hỗ trợ nền kinh tế ứng phó với đại dịch Covid-19.</p>
<p>Hẳn sẽ có nhiều quan điểm cho rằng, Việt Nam khác với các nền kinh tế tiên tiến để có thể nới lỏng tài khoá. Nhưng các nền kinh tế có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam như các nước trong ASEAN, dù tình hình tài khoá hạn hẹp hơn nhiều, cũng đã tăng mạnh trần nợ công và thâm hụt ngân sách. Thái Lan vừa nâng trần nợ công hiện tại từ 60% lên 70%. Malaysia đang sẵn sàng nâng mức trần nợ công lần thứ hai chỉ trong vòng một năm. Philippines, Indonesia cũng tuyên bố đi theo con đường tương tự Thái Lan và Malaysia.</p>
<p>Chính phủ nước ta đã ban hành nhiều chính sách miễn giảm thuế VAT, thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế, phí hỗ trợ doanh nghiệp. Vấn đề là đại dịch khiến quá nhiều lĩnh vực bị tác động nghiêm trọng, không tạo ra đủ lợi nhuận và doanh số để được hưởng các chính sách thuế ưu đãi, thậm chí lỗ nặng. Đã có hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản, rời khỏi thị trường.</p>
<p>Điều doanh nghiệp cần nhất trong lúc này là hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất mạnh hơn nữa. Như đã đề cập ở phần trên, các gợi ý chính sách trong phần dưới bài viết cần được hiểu là chính sách tài chính của Chính phủ. NHNN là trung gian nhận ngân sách từ Bộ Tài chính, đóng vai trò là cầu nối giữa Chính phủ đến nền kinh tế thực. Để tránh so sánh với các nền kinh tế phát triển có các điều kiện khác biệt hoàn toàn, bài viết so sánh và đưa ra các gợi ý chỉ trong phạm vi các nước ASEAN có nhiều điều kiện tương đồng với chúng ta.</p>
<p><strong>Các cơ quan quản lý tài khoá, tiền tệ cần bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình nhiều hơn nữa</strong></p>
<p>Trước nguy cơ nền kinh tế bị nhấn chìm bởi biến thể Delta, NHTW nhiều nước ASEAN đã tuyên bố rằng, họ “sẵn sàng làm, sẵn sàng làm và vẫn sẵn sàng làm” những gì cần thiết để đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng Covid-19. NHTW các nước ASEAN đã sớm có hành động phủ đầu bằng cách hạ lãi suất chính sách, thậm chí xuống mức cận 0% và đảm bảo rằng, tất cả các lựa chọn khác đều phải chuẩn bị sẵn sàng. Điều này nhằm đảm bảo các điều kiện tài chính không còn là trở ngại đối với việc giải cứu doanh nghiệp và phục hồi kinh tế. Thật vô lý khi các điều kiện tài chính lại đang là rào cản cho quá trình phục hồi.</p>
<p>Một thách thức đặt ra là chính sách đánh phủ đầu bằng cách giảm mạnh lãi suất, hoặc thực hiện các công cụ bảo lãnh của Chính phủ cho doanh nghiệp hay tăng trần nợ công có tạo ra quá nhiều rủi ro?</p>
<p>Chúng ta cần phải hiểu đúng về luận điểm rủi ro của việc làm quá ít, thậm chí có một bộ phận có tâm thế không dám làm gì, sẽ lớn hơn rất nhiều so với rủi ro của việc làm quá nhiều. Chúng ta hoàn toàn chia sẻ lo ngại rủi ro tài chính công, về tính bền vững của nợ công và nới lỏng tiền tệ. Nhưng cũng nên sớm kịp nhận ra rằng, nếu đại dịch không được kiểm soát, mọi hậu quả của chúng sẽ tạo ra rủi ro, thậm chí còn lớn hơn đối với sự thịnh vượng lâu dài của nền kinh tế và tính bền vững tài khóa, tiền tệ.</p>
<p>Mới đây, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) phát cảnh báo nguy cơ bất ổn tài khoá tiền tệ do nợ công tăng cao là rủi ro lớn nhất của các nền kinh tế mới nổi hậu đại dịch. Fed cũng vừa phát tín hiệu thắt chặt tiền tệ vào đầu năm 2022, điều này càng làm trầm trọng thêm nguy cơ dòng vốn đảo chiều, nếu chúng ta nới lỏng tài khoá, tiền tệ. Để xử lý rủi ro này, các gói hỗ trợ tài khoá, tiền tệ có thể được thiết kế với thời gian không nên quá dài, phòng ngừa khi có những đảo chiều trên thị trường tài chính quốc tế và những diễn biến bất ngờ phía trước, không quá muộn để chúng ta vẫn còn đủ thời gian thoát ra kịp thời.</p>
<p>Không bao giờ nên kỳ vọng quá lớn vào một công cụ, một quy định nào đó sẽ giải quyết được tất cả khó khăn toàn diện do đại dịch gây ra. Các chính sách tài khoá, tiền tệ, nhất là NHTW có thể mắc sai lầm, nhưng nếu giữ mọi thứ thật đơn giản và tuân theo những nguyên tắc của thị trường, chúng ta vẫn có thể kiểm soát được các rủi ro này.</p>
<p>Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng hoàn toàn có thể thực hiện một cách tinh tế, nền kinh tế cần sự hỗ trợ của Nhà nước nhưng vẫn có thể đảm bảo những nguyên tắc cơ bản của thị trường và tính độc lập tương đối của NHNN. NHNN thời gian qua trong khi vẫn thực hiện nhiệm vụ đảm bảo ổn định lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, cũng đã có rất nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp. Tạo dựng uy tín của NHTW là vốn quý nhất, các giải pháp khẩn cấp hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần phải đảm bảo không làm mất đi điều này. Tuy nhiên, vấn đề là nguồn thanh khoản từ NHNN thông qua hệ thống ngân hàng thương mại lan toả xuống từng doanh nghiệp cũng có lúc gặp trục trặc. Nói một cách ẩn dụ, giống như đường ống nước thỉnh thoảng hay bị tắc. Phải làm gì đây?</p>
<p>NHTW ở các nền kinh tế phát triển thực hiện chính sách tiền tệ phi truyền thống bằng cách mua vào trực tiếp trái phiếu doanh nghiệp. Chính phủ xuất hiện kịp thời trong tình thế khẩn cấp đảm nhiệm thay khu vực tư như là thợ sửa ống nước. Chính sách này dù vậy đang bị chỉ trích vì làm phân bổ sai nguồn lực và tăng thêm bất bình đẳng. Người viết cho rằng, chưa đến lúc NHNN nên áp dụng chính sách phi truyền thống vào lúc này, mặc dù đến giờ cũng đã có đến 2 NHTW khu vực ASEAN là Indonesia và Philippines sử dụng công cụ nới lỏng định lượng để mua trái phiếu chính phủ với quy mô vừa phải và cũng đã mang lại những thành công nhất định.</p>
<p>Nhiều ý kiến cho rằng, Chính phủ nên lập ra một dạng quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua đại dịch Covid-19. Đây là đề xuất chính đáng. Tuy nhiên, nếu thực hiện, quỹ này chỉ nên chuyên dùng vào cấp bù lãi suất và phải được chuyển qua cho hệ thống ngân hàng đảm nhận. Chỉ có ngân hàng mới có nghề thẩm định xem doanh nghiệp nào có khả năng tồn tại vượt qua đại dịch. Một phần vì hậu đại dịch sẽ là nhiều mô hình kinh doanh mới xuất hiện, nên doanh nghiệp nào không thích nghi phải chấp nhận chịu đau, một phần cũng do nguồn lực của chúng ta có hạn nên không thể giải cứu tất cả trên diện rộng. Phải chấp nhận thị trường tạo ra “sự huỷ diệt sáng tạo”.</p>
<p><strong>Khẩn cấp tạo công cụ tài chính mới để giải cứu những doanh nghiệp quan trọng của nền kinh tế</strong></p>
<p>Về việc hỗ trợ doanh nghiệp, hiện việc cấp bù lãi suất đã được NHNN và Bộ Tài chính lý giải rất phức tạp nên không thể triển khai. Có thể các ngân hàng e ngại không dám tham gia chương trình này do lo sợ liên luỵ vì quá trình thanh, kiểm tra quá nghiệt ngã hậu đại dịch (như kinh nghiệm từ đợt cấp bù lãi suất năm 2008). Hoặc cũng có thể việc này quá phức tạp đến mức các cơ quan điều hành không ai dám luỵ vào. Dù gì, những ách tắc này vẫn cần sớm được khai thông.</p>
<p>Những e ngại trên dù gì cũng có lý do. Việt Nam cũng không khác các nước ASEAN. Dữ liệu cho thấy, tăng trưởng tín dụng khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa toàn khối ASEAN hiện ở mức rất thấp. Biến thể Delta càng khiến các ngân hàng ngại rủi ro, nên càng hạn chế cho vay. NHNN cũng không thể bắt buộc họ làm điều này. Tình hình nếu không sớm được cải thiện, có thể tác động nhiều đến quá trình hồi phục kinh tế về sau. Chúng đòi hỏi các nhà điều hành phải có những giải pháp sáng tạo hơn.</p>
<p>Trước hết, chúng ta phải thấy rằng, đại dịch kéo dài gần 2 năm nay đã khiến nhiều ngành nghề ở các lĩnh vực kinh doanh du lịch, vận tải, hàng không, bất động sản không tạo ra bất kỳ dòng tiền nào. Vậy ngân hàng nào dám mạo hiểm cho vay? Trong khi đó, tài sản ở các khu vực này lại có giá trị rất cao, đóng góp nhiều vào tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế. Sẽ là sai lầm nếu để họ phá sản hoặc để các doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm với giá rẻ.</p>
<p>Công cụ tài chính “chuyển nhượng và thoả thuận mua lại tài sản” có thể là giải pháp khả thi để giải quyết bế tắc. Chúng đảm bảo tối đa các nguyên tắc của thị trường với vai trò kiến tạo của Nhà nước. Theo đó, các doanh nghiệp nào mất thanh khoản hoặc có nguy cơ vỡ nợ sẽ được chuyển nhượng tài sản cho ngân hàng quản lý, sau đó doanh nghiệp được quyền thoả thuận mua lại trong khoảng thời gian nhất định với mức giá 2 bên chấp nhận. Chính phủ, thông qua NHNN, sẽ hỗ trợ nguồn tài chính (với lãi suất thấp thậm chí bằng 0) cho các tổ chức tín dụng bằng với mức giá thoả thuận đã được xác định trước giữa doanh nghiệp và ngân hàng.</p>
<p>Kinh nghiệm từ Thái Lan có thể là bài học để chúng ta tham khảo. Quốc hội Thái Lan đã đồng ý để Bộ Tài chính bước đầu chuyển 100 tỷ trong tổng số 500 tỷ baht (gần 15 tỷ USD) cho NHTW tài trợ cho các ngân hàng tham gia kế hoạch “chuyển nhượng và thoả thuận mua lại tài sản” đối với các tài sản có giá trị ở các doanh nghiệp ngành hàng không, bất động sản và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. NHTW Thái cũng cho phép ngân hàng tính lãi suất cho vay 5%, cao hơn mức 2% hiện tại. Các cơ quan chức năng có liên quan khác cũng được giao nhiệm vụ miễn, giảm thuế và các loại phí liên quan. Các khoản phí trong thời gian “lưu kho” ở ngân hàng cũng được tính với giá ưu đãi 1%/năm trên giá thoả thuận.</p>
<p>Ở Việt Nam, ngoài các doanh nghiệp nhỏ và vừa, du lịch và bất động sản, NHNN, Bộ Tài chính và các bộ, ngành có liên quan như Bộ Giao thông &#8211; Vận tải hoàn toàn có thể áp dụng công cụ tài chính mới này cho tất cả các doanh nghiệp ngành hàng không, thay vì chỉ ưu tiên hỗ trợ Vietnam Airlines như hiện tại.</p>
<p>Giả dụ tình huống xấu nhất, một vài doanh nghiệp phá sản, sau này khi nền kinh tế phục hồi, hệ thống ngân hàng vẫn còn đó tài sản thế chấp có giá trị và do đó không ảnh hưởng nhiều đến nợ xấu. Có thể có một số thiệt hại nào đó, nhưng đó chính là chiến lược chi phí thấp để giải cứu và phục hồi nền kinh tế.</p>
<p>Chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng các giải pháp này khi chúng được thiết kế để sử dụng các nguồn lực hạn chế của cả khu vực công và tư nhân nhằm mang lại tác động lớn nhất. Bộ Chính trị mới đây có kết luận sẽ bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Các cơ quan quản lý tài khoá và tiền tệ càng có thêm động lực áp dụng nguyên tắc “không nói không, không nói khó và không nói có nhưng không làm” của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính để bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình hơn nữa.</p>
<p><strong>Nguồn dẫn: GS. TS. Trần Ngọc Thơ (Đại học Kinh tế)/ Báo Đầu tư</strong></p>
<p><strong>Link bài gốc: https://baodautu.vn/phuc-hoi-nen-kinh-te-cac-lua-chon-chinh-sach-nao-cho-viet-nam-bai-1-d152503.html</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>“Hành động lớn” để không lỡ chuyến tàu lịch sử toàn cầu mới &#8211; Kỳ 5: Cần một cuộc “cách mạng hóa” tư duy kinh tế</title>
		<link>https://kinhtebatdongsan.vn/hanh-dong-lon-de-khong-lo-chuyen-tau-lich-su-toan-cau-moi-ky-5-can-mot-cuoc-cach-mang-hoa-tu-duy-kinh-te/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đầu tư BĐS]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 14 Jul 2021 10:55:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đầu tư]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyến tàu kinh tế]]></category>
		<category><![CDATA[featured]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Ngọc Thơ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://kinhtebatdongsan.vn/?p=1295</guid>

					<description><![CDATA[Các khoản chi tiêu tài khóa, tiền tệ cho đến hiện tại vẫn chưa cho thấy đúng nghĩa điều gì gọi là “kích thích”. Chúng ta cần cuộc “cách mạng hóa” tư duy kinh tế để thay đổi số phận. Trong khi các quốc gia giàu có tranh luận sôi nổi về việc cần phải [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Các khoản chi tiêu tài khóa, tiền tệ cho đến hiện tại vẫn chưa cho thấy đúng nghĩa điều gì gọi là “kích thích”. Chúng ta cần cuộc “cách mạng hóa” tư duy kinh tế để thay đổi số phận.</p>
<p>Trong khi các quốc gia giàu có tranh luận sôi nổi về việc cần phải “hành động lớn” bằng các gói kích thích tài khóa, tiền tệ vừa lớn, vừa chưa có tiền lệ nhằm ứng phó với Covid-19, thì các quốc gia mới nổi lại xem chống dịch là ưu tiên hàng đầu, đồng thời thúc đẩy các cải cách mang tính cấu trúc. Vậy phải làm gì để đừng lỡ hẹn chuyến tàu lịch sử toàn cầu mới?</p>
<p><strong>Kỳ 5: Cần một cuộc “cách mạng hóa” tư duy <a href="https://baodautu.vn/thoi-su-d1/" target="_blank" rel="noopener">kinh tế</a></strong></p>
<p>Các khoản chi tiêu tài khóa, tiền tệ cho đến hiện tại (và phác thảo một số dự kiến tương lai của các bộ, ngành) vẫn chưa cho thấy đúng nghĩa bất kỳ điều gì gọi là “kích thích”. Tất cả chỉ là “giảm đau” &#8211; nỗ lực nhằm giảm thiểu tác động xấu của cuộc khủng hoảng kinh tế &#8211; y tế trong gần 2 năm qua. Chúng ta cần một cuộc “cách mạng hóa” tư duy kinh tế để thay đổi số phận.</p>
<p><strong>Tầm nhìn dài hạn trong thế giới của các đòi hỏi ngắn hạn</strong></p>
<p>Trước mắt, “vết sẹo” quá lớn từ Covid-19 sẽ bình thường trở lại như thế nào phụ thuộc vào độ lớn và cách thiết kế gói chi tiêu và <a href="https://baodautu.vn/" target="_blank" rel="noopener">đầu tư</a> công của Nhà nước. Đó mới là vế thứ nhất của phương trình. Vế thứ hai, rất khó thay đổi, thuộc về tầm nhìn và tư duy kinh tế.</p>
<p>Kinh nghiệm giúp các nhà kinh tế nhận ra, các cuộc suy thoái kinh tế trong quá khứ có tác động rất lâu dài, với GDP sụt giảm 4%/năm kéo dài trong 5 năm (theo IMF). Vì vậy, kinh nghiệm cũng mách bảo, phải có những đánh giá đáng tin cậy về thiệt hại và thời gian kéo dài của Covid-19. Từ đánh giá khoa học, chúng ta mới có nhận biết tương đối để thiết kế các gói hỗ trợ kinh tế giảm đau  nhằm tránh rủi ro suy thoái kéo dài.</p>
<p>Ngay cả khi chấp nhận số tiền từ các gói giảm đau là rất lớn, thậm chí dù có đủ nguồn lực cân đối, thì chúng ta cũng phải tỉnh táo thiết lập tầm nhìn dài hạn trong thế giới của các đòi hỏi ngắn hạn. Các nhà hoạch định chính sách cần có những quyết định dũng cảm để không cấp giấy thông hành đối với các ngành nghề không phải là tương lai của con tàu toàn cầu mới, cho dù hiện tại, họ có thể là những người có tiếng nói để đòi hỏi các gói hỗ trợ lớn.</p>
<p>Cái giá phải trả của những quyết định nửa vời có thể biến các “sẹo” trở thành các “<a href="https://baodautu.vn/doanh-nghiep-d3/" target="_blank" rel="noopener">doanh nghiệp</a> xác sống”, gây tổn hại đến triển vọng tăng trưởng kinh tế và sự ổn định của hệ thống <a href="http://infomoney.vn/" target="_blank" rel="noopener">ngân hàng</a> trong dài hạn. “Sự hủy diệt mang tính sáng tạo” rất cần được các nhà hoạch định chính sách mạnh dạn ứng dụng trong các trường hợp này.</p>
<p><strong>Bản chất “độc nhất” của cuộc khủng hoảng kinh tế và sức khỏe hiện nay</strong></p>
<p>Lập luận trên dẫn chúng ta đến cách tiếp cận tiếp theo. Vậy bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế và sức khỏe đang diễn ra là gì? Không như các cuộc khủng hoảng trong quá khứ, thật may mắn, bản chất độc nhất của cuộc khủng hoảng lần này là chúng lại đang mở ra các kênh hoạt động mới để bù đắp thiệt hại và hướng đến một tiềm năng tăng trưởng mới, cao và bền vững hơn.</p>
<p>Nghịch lý là dường như Covid-19 lại mở ra một tương lai tốt đẹp hơn. Xu hướng làm việc từ xa chắc chắn làm cho các lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng như vận tải, hàng không thoái trào, nhưng lại mở cơ hội cho các lĩnh vực có năng suất cao hơn và sạch hơn.</p>
<p>Trong lĩnh vực xây dựng, đại dịch đang mở ra xu hướng mới là xây các tòa nhà có thể tái tạo, thay vì phá bỏ như trước.</p>
<p>Trong lĩnh vực kinh tế số, một làn sóng số hóa đang diễn ra, đặc biệt khi chúng đang được thúc đẩy mạnh mẽ bởi đại dịch. Số hóa nền kinh tế, “bây giờ hoặc không bao giờ”, chắc chắn không phải là cách nói cường điệu.</p>
<p>Một mặt, thể chế cần phải mở ra phù hợp để đẩy nhanh tốc độ số hóa nền kinh tế. Điều này đặt ra cho chúng ta gợi ý, nên chăng, các gói giảm đau phải kèm theo điều kiện doanh nghiệp thụ hưởng cần đáp ứng những yêu cầu chuyển đổi số. Biết rằng, cứu trợ cần phải tiến hành khẩn cấp, nhưng trong điều kiện nguồn lực có hạn, chúng ta buộc phải chấp nhận hy sinh các lợi ích ngắn hạn.</p>
<p>Mặt khác, cách đặt vấn đề như thế sẽ đưa chúng ta đến tầm nhìn dài hạn hơn khi thiết kế các gói hỗ trợ. Theo đó, các gói hỗ trợ phải tự nó chuyển hóa thành “phục hồi”. Điều này đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách nhiều hàm ý.</p>
<p>Chỉ bàn riêng trong lĩnh vực tài khóa, chẳng hạn, với chính sách thuế bảo vệ môi trường chống khí thải carbon để hạn chế lĩnh vực ô nhiễm nhằm khuyến khích ngành công nghiệp xanh phát triển, hoặc các chính sách thuế nhiều ưu đãi hơn trong lĩnh vực phát triển đô thị thông minh, nếu được thiết kế tốt, các khoản ưu đãi miễn giảm (hoặc tăng) thuế sẽ giúp quá trình chuyển đổi diễn ra nhanh hơn.</p>
<p>Về chính sách tiền tệ, chỉ tính riêng trong ASEAN-4, các chính sách phi truyền thống cũng được cân nhắc áp dụng một cách cẩn trọng. Malaysia và Thái Lan sử dụng các hoạt động cho vay của ngân hàng trung ương để bơm thêm thanh khoản cho nhiều doanh nghiệp, trong khi Indonesia và Philippines sử dụng công cụ nới lỏng định lượng (mua tài sản) quy mô lớn.</p>
<p>Mặc dù còn quá sớm để đánh giá độ tin cậy, song cho đến giờ, chính sách tiền tệ phi truyền thống cũng đã tạm thời ngăn chặn làn sóng doanh nghiệp phá sản. Điều đáng lưu ý là, không nước nào trong ASEAN-4 áp dụng nhiều hơn 1 trong số 5 công cụ chính sách tiền tệ phi truyền thống. Cách tiếp cận thận trọng này là kinh nghiệm đáng để các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cân nhắc áp dụng trong những tình huống khẩn cấp, khi lời kêu gọi hệ thống ngân hàng cùng chung tay “chia sẻ” với doanh nghiệp ít có tác dụng trên thực tế.</p>
<p>Để giảm thiểu các tác dụng phụ của chính sách phi truyền thống, chúng ta phải biết cách chọn ra “người chiến thắng” theo những tiêu chí phù hợp. Tiêu chí “chuẩn nhất” là hoạt động bảo lãnh cho vay hoặc cho vay trực tiếp của ngân hàng trung ương chỉ nên áp dụng đối với doanh nghiệp vẫn chưa bị âm vốn chủ sở hữu. Tất nhiên, điều này không loại trừ khả năng chúng ta vẫn cân nhắc nới lỏng nhiều điều kiện hơn để các doanh nghiệp tiếp cận nguồn “oxy” khẩn cấp từ Nhà nước.</p>
<p><strong>“Hành động lớn” đòi hỏi phải có cuộc “cách mạng hóa” tư duy kinh tế</strong></p>
<p>Với những vết sẹo dài hạn do Covid-19 gây ra, hành động khẩn cấp, nhưng lại là nhân tố làm “thay đổi cuộc chơi” là chiến lược ngoại giao vắc-xin, nên chúng ta phải bằng mọi giá xây dựng một ngành công nghiệp sản xuất vắc-xin tự chủ của người Việt Nam.</p>
<blockquote>
<div class="quote-box box-right"><strong>Đại dịch tuy không mong muốn, nhưng lại mở ra chiếc hộp Pandora để các nhà kinh tế và hoạch định chính sách nhìn lại chính mình. Bây giờ hoặc không bao giờ.</strong></div>
</blockquote>
<p>Các gói hỗ trợ kinh tế gắn với chính sách tiền tệ liên quan đến giảm lãi suất, gia hạn nợ, thậm chí nếu áp dụng cả chính sách phi truyền thống như ASEAN-4, cũng chỉ nên hiểu là gói giảm đau. Chính sách tiền tệ, thậm chí cả chính sách tài khóa ở quy mô lớn, cũng chỉ là giảm nhẹ nỗi đau, tránh cho vết sẹo biến chứng. Trong khi đó, để chữa lành sẹo, tái tạo mới để chuyển sang đoàn tàu toàn cầu mới lại đòi hỏi các vấn đề liên quan đến thể chế và cách thức sử dụng nguồn lực quốc gia.</p>
<p>Cải cách thể chế là yếu tố quan trọng bậc nhất để dịch chuyển vĩnh viễn đường tổng cung thoát khỏi vị thế hiện tại và từ đó, đưa sản lượng tiềm năng lên một đỉnh cao mới. Đề xuất của các chuyên gia trong loạt bài trên Báo Đầu tư, như của TS. Hồ Quốc Tuấn khi bàn về việc xây dựng ngành công nghiệp y sinh học quốc gia, của PGS-TS Trần Đình Thiên về việc ưu tiên cho các trụ cột của nền kinh tế vì không có bát cháo chia đều, hoặc của TS. Nguyễn Đức Kiên về tư duy gỡ bỏ rào cản và cách hiểu đúng vấn đề “mở cửa” chính là những gợi ý chính sách cơ bản để dịch chuyển đường tổng cung [dài hạn] sang một vùng tăng trưởng tiềm năng mới.</p>
<p>Nhưng trước mắt, các cải cách cấu trúc, tăng chi tiêu đầu tư của Nhà nước (vốn mồi để lan tỏa sang khu vực tư nhân) thường bị các tư duy kinh tế truyền thống áp đặt là sẽ tạo ra áp lực lạm phát. Cách mạng hóa trong tư duy kinh tế có thể bắt đầu từ việc xem lại cách đặt vấn đề quá truyền thống, vốn đang xa rời thực tế.</p>
<p>Các tranh luận cổ điển và tư duy kinh tế thông thường đều dạy chúng ta rằng, nền kinh tế chỉ có một điểm cân bằng. Khi mất cân bằng, hãy cứ để cho thị trường (khu vực tư nhân) tự điều chỉnh trở lại trạng thái ban đầu. Chính sách tiền tệ và tài khóa trong trường hợp này chỉ có tác dụng làm cho lạm phát tăng tốc. Tư duy kinh viện khiến các nhà hoạch định chính sách nước nhà cứ mãi kẹt trong ý tưởng “bằng mọi giá phải ổn định lạm phát và kinh tế vĩ mô”. Chúng ta dựa trên giáo khoa thư cổ điển chỉ có một điểm cố định, trong khi thế giới  đã thay đổi quá nhiều, với nhiều điểm cân bằng di động.</p>
<p>Không giống bất kỳ cú sốc nào trong quá khứ, Covid-19 để lại quá nhiều vết sẹo. Chúng không phải “tạm thời”, mà còn kéo dài rất nhiều năm, ở nhiều khu vực khác nhau của nền kinh tế.  Khi một nền kinh tế có quá nhiều lỗ hổng, sẽ rất lâu mới có thể quay về điểm xuất phát, thậm chí không bao giờ, nếu không có các khoản đầu tư công rất lớn.</p>
<p>Trong trường hợp này, nếu quá thận trọng với việc thiết kế các gói kích thích tài khóa không đủ lớn, hậu quả có thể làm lạm phát tăng tốc (do nút thắt cổ chai tổng cung). Điều may mắn là cú sốc Covid-19 lại đang mở nhiều cơ hội lịch sử để thay đổi “lời nguyền” này. Một định chế bảo thủ như IMF, với những lời khuyên về các “toa thuốc độc” tăng lãi suất thực, hay áp dụng chính sách “thắt lưng buột bụng” mỗi khi một quốc gia nào đó rơi vào suy thoái, giờ cũng đã thay đổi quan điểm khi cho rằng, các nền kinh tế đang phát triển cần phải chấp nhận tăng không gian tài khóa, tiền tệ nhiều hơn nữa.</p>
<p>Các gói kích thích tài khóa tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng kết nối các khu kinh tế trọng điểm, các <a href="https://baodautu.vn/dau-tu-d2/" target="_blank" rel="noopener">dự án</a> chuyển đổi số, các khoản đầu tư lớn chống biến đổi khí hậu… đều có khả năng chuyển nền kinh tế sang một con đường tăng trưởng mới, cao, nhanh và bền vững hơn. Chúng có khả năng tạo ra nguồn cung của nền kinh tế cao hơn để đáp ứng nhiều hơn tổng cầu (nhu cầu tạo ra từ các gói kích thích kinh tế quá lớn, điều mà các nhà kinh tế lo ngại dẫn đến lạm phát). Một cú sốc năng suất tích cực theo cách này sẽ dẫn đến “giảm lạm phát”, thay vì lạm phát (như các tư duy truyền thống).</p>
<p>Luận điểm “bằng mọi giá phải ổn định lạm phát và kinh tế vĩ mô” đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị, nhưng cần phải đảo ngược các logic phân tích truyền thống. Thay vì cho rằng, quy mô các gói kích thích tài khóa tác động đến nợ công và lạm phát, chúng ta nên chuyển từ việc phân tích các triển vọng kinh tế mới và năng suất lao động để tư duy ngược lại quy mô của các gói kích thích kinh tế. Trước khi đại dịch xảy ra, nhiều người cho rằng, cách tư duy này là không có cơ sở kinh tế. Đại dịch tuy không mong muốn, nhưng lại mở ra chiếc hộp Pandora để các nhà kinh tế và hoạch định chính sách nhìn lại chính mình. Bây giờ hoặc không bao giờ.</p>
<blockquote><p><strong>Nguồn dẫn: GS. Trần Ngọc Thơ &#8211; Đại Học Kinh tế/ Báo đầu tư </strong></p>
<p><strong>Link bài gốc: https://baodautu.vn/hanh-dong-lon-de-khong-lo-chuyen-tau-lich-su-toan-cau-moi&#8212;ky-5-can-mot-cuoc-cach-mang-hoa-tu-duy-kinh-te-d147162.html</strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>“Hành động lớn” để không lỡ chuyến tàu lịch sử toàn cầu mới &#8211; Kỳ 1: Bài học từ hỗ trợ và kích thích nền kinh tế</title>
		<link>https://kinhtebatdongsan.vn/hanh-dong-lon-de-khong-lo-chuyen-tau-lich-su-toan-cau-moi-ky-1-bai-hoc-tu-ho-tro-va-kich-thich-nen-kinh-te-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đầu tư BĐS]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 11 Jul 2021 03:05:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyên đề]]></category>
		<category><![CDATA[featured]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Ngọc Thơ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://kinhtebatdongsan.vn/?p=1214</guid>

					<description><![CDATA[Tập trung gói hỗ trợ và kích thích kinh tế đang là lựa chọn của nhiều quốc gia để không lỡ hẹn chuyến tàu chuyển đổi lịch sử sang một nền kinh tế toàn cầu mới. Trong khi các quốc gia giàu có tranh luận sôi nổi về việc cần phải “hành động lớn” bằng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Tập trung gói hỗ trợ và kích thích kinh tế đang là lựa chọn của nhiều quốc gia để không lỡ hẹn chuyến tàu chuyển đổi lịch sử sang một nền kinh tế toàn cầu mới.</p>
<p>Trong khi các quốc gia giàu có tranh luận sôi nổi về việc cần phải “hành động lớn” bằng các gói kích thích tài khóa, tiền tệ vừa lớn, vừa chưa có tiền lệ nhằm ứng phó với Covid-19, thì các quốc gia mới nổi lại xem chống dịch là ưu tiên hàng đầu, đồng thời thúc đẩy các cải cách mang tính cấu trúc. Vậy phải làm gì để đừng lỡ hẹn chuyến tàu lịch sử toàn cầu mới?</p>
<p><strong>Kỳ 1: Bài học từ hỗ trợ và kích thích nền <a href="https://baodautu.vn/thoi-su-d1/" target="_blank" rel="noopener">kinh tế</a></strong></p>
<p>Tập trung gói hỗ trợ và kích thích kinh tế đang là lựa chọn của nhiều quốc gia để không lỡ hẹn chuyến tàu chuyển đổi lịch sử sang một nền kinh tế toàn cầu mới, được xây dựng trên nền tảng xanh và kỹ thuật số.</p>
<p><strong>Bài học thất bại của các gói kích thích kinh tế ở các nền kinh tế mới nổi</strong></p>
<p>Các nước giàu có, được tích lũy nguồn lực từ thời kỳ đại bình ổn nhiều thập kỷ trước, dư thừa nguồn lực để thực hiện các chính sách bơm tiền vào nền kinh tế với quy mô lớn chưa từng có, bắt đầu từ cuộc khủng hoảng <a href="https://baodautu.vn/tai-chinh-bao-hiem-d6/" target="_blank" rel="noopener">tài chính</a> năm 2008 và hiện vẫn tiếp tục với quy mô ngày càng lớn hơn để đối phó với đại dịch.</p>
<p>Các quốc gia mới nổi cũng mô phỏng theo các nước phát triển bằng các gói kích thích kinh tế, thậm chí rất hào phóng, để đối phó với khủng hoảng tài chính năm 2008. Một phần sự hào phóng này do nhiều nền kinh tế mới nổi có tiềm năng tăng trưởng cao gần 2 con số trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, đáng buồn là, tất cả những khoản chi tiêu khổng lồ chỉ tạo ra một sự tăng trưởng trong thời gian ngắn, để rồi sau đó lụi tàn dần. Các nền kinh tế mới nổi giờ được nhắc đến nhiều hơn với rủi ro thường trực để trả những món nợ vượt quá khả năng chi trả.</p>
<p>Khi Covid-19 xảy ra vào năm 2020, các nền kinh tế mới nổi không còn đủ nguồn lực để thông qua các gói kích thích tài khóa như trước đây. Họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thúc đẩy cải cách để nâng cao năng suất. Các gói kích thích tài khóa, tiền tệ và bảo lãnh tín dụng của nhà nước ở các nền kinh tế mới nổi tăng từ 6% GDP vào năm 2008 lên đến 9% GDP vào năm 2020. Tuy vậy, chúng vẫn còn rất nhỏ so với quy mô các gói kích thích kinh tế của các nước phát triển (từ 10% GDP năm 2008 lên đến 33% GDP trong năm 2020). Các quốc gia phát triển đã chi cho các gói kích thích kinh tế vào năm 2020 nhiều hơn gần 4 lần so với các nước đang phát triển.</p>
<p>Trung Quốc là trường hợp đáng lưu ý nhất. Các gói kích thích tài khóa năm 2008 lên đến 14% GDP đã được nhiều tổ chức ca ngợi hết lời là đã “giải cứu” nền kinh tế toàn cầu thoát khỏi suy thoái. Kết cục, Trung Quốc đang bắt đầu gánh chịu hậu quả với quả bom nợ khổng lồ, nguy cơ bong bóng tài chính và tăng trưởng bắt đầu chậm dần lại đáng kể. Phản ứng với Covid-19, các gói kích thích kinh tế của Trung Quốc chỉ còn khoảng 9% GDP.</p>
<p>Phản ứng với đại dịch, các nước đang phát triển, thay vì tập trung quá mức vào tính toán các gói kích thích kinh tế đủ lớn như thế nào, lại đặt cược vào bài toán làm thế nào thúc đẩy hàng loạt cải cách nhằm nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng.</p>
<p>Truyền thông thế giới đưa tin nhiều về việc nông dân Ấn Độ biểu tình giữa đại dịch do Chính phủ bắt đầu chấm dứt nhiều khoản trợ cấp mang tính bảo hộ nông nghiệp. Nhưng đó là cái giá phải trả của đạo luật nông nghiệp mới, trong một nỗ lực toàn diện nhằm thúc đẩy cạnh tranh khu vực tư nhân để tập trung mọi nguồn lực <a href="https://baodautu.vn/" target="_blank" rel="noopener">đầu tư</a> cho lĩnh vực hạ tầng.</p>
<p>Indonesia cảm nhận không được hưởng lợi nhiều từ sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế khỏi Trung Quốc do căng thẳng Mỹ &#8211; Trung, nên đang đặt ra chương trình nghị sự đầy tham vọng bằng cách giảm thuế thu nhập <a href="https://baodautu.vn/doanh-nghiep-d3/" target="_blank" rel="noopener">doanh nghiệp</a>, đồng thời quyết liệt truy vết các khoản thuế khu vực kỹ thuật số và chuyển mạnh sang mở cửa thị trường tài chính để phấn đấu GDP tăng bình quân 5%/năm trong nhiều năm tới.</p>
<p>Trong khi đó, Philippines đang nén đau để cắt giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp khá cao, từ 30% xuống 20%, nhằm tăng khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực.</p>
<p>Ai Cập, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, lần đầu tiên cho phép <a href="http://dautubds.baodautu.vn/tag/nguoi-nuoc-ngoai-mua-nha/" target="_blank" rel="noopener">người nước ngoài</a> mua nhà và các doanh nghiệp địa phương.</p>
<p>Đáng ngạc nhiên là, Trung Quốc bắt đầu mở cửa mạnh mẽ hơn nữa thị trường tài chính cho các nhà đầu tư quốc tế, cho dù nguồn lực vẫn còn rất dồi dào.</p>
<p>Rõ ràng, sự bất định phía trước khiến các quốc gia phải cảnh giác mở rộng các bộ đệm tài khóa, tiền tệ để gia tăng sức chống chịu của nền kinh tế.</p>
<p><strong>Một số hàm ý chính sách cho Việt Nam</strong></p>
<p><strong><em>Kế hoạch 3 điểm: “vắc-xin, thể chế, kinh tế xanh và số hóa”</em></strong></p>
<p>Bài học đầu tiên cho Việt Nam là, trong khi xem “chống dịch như chống giặc”, cũng cần phải đặt trọng tâm cho các chiến lược cải cách mang tính cấu trúc.</p>
<p>Về vấn đề này, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) mới đây có khuyến nghị đối với các nước đang phát triển bằng kế hoạch 3 điểm, bắt đầu bằng việc khuyến khích sản xuất và phân phối vắc-xin phòng Covid-19. Sau đó, các chính phủ cần phải cải cách chính sách tài chính công theo hướng giảm dần hỗ trợ cho nền kinh tế, đồng thời dỡ bỏ các rào cản thể chế. Cuối cùng, các chính phủ nên tìm cách đầu tư mạnh mẽ để hướng đến tăng trưởng do đổi mới công nghệ cao hơn và xanh hơn, nhằm phát triển bền vững hơn.</p>
<p>Đối chiếu khuyến nghị 3 điểm của IMF, việc Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 63/NQ-CP 2021 (về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải ngân vốn đầu tư công và xuất khẩu bền vững những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022) đã đề cập tham vọng tiến tới hình thành công nghiệp sản xuất vắc-xin ở nước ta là bước đi đúng hướng, mang tính quyết định mọi thành bại sau này.</p>
<p>Nghị quyết này hầu như đề cập đủ mọi khía cạnh trong kế hoạch 3 điểm của IMF, song các giải pháp trọng tâm lại chưa đề cập đến ít nhất 2 vấn đề cốt lõi. Đó là phát triển nền kinh tế xanh và chống biến đổi khí hậu; mở cửa thị trường tài chính mạnh mẽ hơn nữa để thu hút nhiều hơn các nguồn lực bên ngoài.</p>
<p>IMF khuyến cáo “các quốc gia nghèo hơn có nguy cơ lỡ hẹn chuyến tàu chuyển đổi lịch sử sang một nền kinh tế toàn cầu mới, được xây dựng trên nền tảng xanh và kỹ thuật số”.</p>
<p><em><strong>Rủi ro của việc làm quá nhiều sẽ thấp hơn rủi ro của việc làm quá ít hoặc không dám làm gì</strong></em></p>
<p>Bất chấp nỗ lực chống dịch, hậu quả của đại dịch đã để lại vết sẹo quá lớn cho các nước. Việt Nam cũng không là ngoại lệ và ưu tiên hàng đầu của chúng ta sắp tới là phải chữa lành các tổn thương. Chúng ta phải dám nhìn thẳng sự thật rằng, đã đến lúc chấp nhận tăng đáng kể các khoản chi tiêu đầu tư, tăng nợ công để hỗ trợ các hộ gia đình, người lao động và các doanh nghiệp bị tổn thương. Chúng ta hoàn toàn chia sẻ lo ngại rủi ro tài chính công và tính bền vững của nợ công. Nhưng cũng nên sớm kịp nhận ra rằng, nếu đại dịch không được kiểm soát, hậu quả là sẽ tạo ra rủi ro, thậm chí còn lớn hơn đối với sự thịnh vượng lâu dài của nền kinh tế và tính bền vững tài khóa.</p>
<p>Việc triển khai gói hỗ trợ và kích thích tài khóa lần đầu vào năm 2020 là một dạng thiết kế và thực thi chính sách theo kiểu “rủi ro của việc làm quá ít sẽ thấp hơn rủi ro của việc làm quá nhiều”. Thực tế đã cho thấy, một chính sách như thế ít mang lại hiệu quả, vì chẳng có bao nhiêu đối tượng được thụ hưởng các lợi ích được nêu như kỳ vọng. Vì vậy, gói kích thích tài khóa và hỗ trợ kinh tế sắp tới cần được thiết kế đảo ngược lại, theo phương châm “rủi ro của việc làm quá nhiều sẽ thấp hơn rủi ro của việc làm quá ít hoặc không dám làm gì”. Chúng ta chỉ có hai chọn lựa và chỉ còn cách lựa chọn kịch bản ít xấu nhất.</p>
<p>Gói hỗ trợ kinh tế và kích thích tài khóa phải đủ lớn để bao phủ, đơn giản, nhưng hiệu quả. Chẳng hạn, đối với gói an sinh xã hội hỗ trợ người lao động, nếu chỉ phát tiền cho người lao động, cho người dân, nhưng họ không chi tiêu mà để dành tiết kiệm thì sẽ không (hoặc ít) hiệu quả. Thay vào đó, có thể phát phiếu mua hàng có thời hạn nhất định (vé máy bay, hoặc các mặt hàng cần kích cầu) theo kiểu mua 1 tặng 3. Người dân nhận phiếu chỉ chi trả 1 đồng cho món hàng trị giá 3 đồng, phần chênh lệch sẽ được ngân sách chi trả. Phiếu mua hàng dạng này nếu áp dụng ở các chợ đêm tại các thành phố lớn và nơi du lịch sẽ là mũi tên trúng nhiều đích: hỗ trợ người lao động, trong khi kích cầu ở các khu vực kinh tế bị tổn thương nặng nhất, nhờ đó, giảm nhẹ gánh nặng chi ngân sách ở các khu vực này.</p>
<p><em><strong>Cải cách chính sách thuế</strong></em></p>
<p>Theo IMF, hành động khẩn cấp lúc này là ưu tiên tiêm chủng vắc-xin cho người dân, còn các vấn đề liên quan đến chi tiêu tài khóa và trần nợ công thuộc vấn đề dài hạn. Mặc dù vậy, trong quá trình tiến đến dài hạn, chúng ta cũng phải xử lý dần những rủi ro có khả năng dẫn đến an toàn tài khoá sau này. Đại dịch là một cú sốc tạm thời. Về nguyên tắc, thiết kế nguồn thu để tài trợ cho việc xử lý hậu quả của đại dịch cũng phải mang tính chất tạm thời. Trong bối cảnh đó, các chính sách tăng thuế vào lúc này, thay vì làm ngược lại, vừa ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư, vừa ảnh hưởng đến sức chống chịu của nền kinh tế.</p>
<p>Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã có nhận định đáng lưu ý về vấn đề này khi cho rằng, không chấp nhận làm thuế kiểu “ngứa đâu, gãi đó”. Chúng ta cần lưu ý hai vấn đề.</p>
<p>Thứ nhất, do là cú sốc tạm thời, cơ quan thuế không nhất thiết phải dùng công cụ thuế để tăng nguồn thu. Thay vào đó, có thể mạnh dạn dùng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn ở các doanh nghiệp nhà nước, tiết kiệm nhiều hơn nữa các khoản chi thường xuyên hoặc thậm chí có thể tính tới phương án phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế.</p>
<p>Thứ hai, nhân cơ hội này, biến các khoản thuế từ cú sốc tạm thời thành các khoản thuế mang tính cấu trúc, vĩnh viễn. Đại dịch đã thúc đẩy thương mại điện tử và kinh tế số phát triển chưa từng có. Đây là lúc cơ quan thuế nên tập trung tối đa nguồn lực thiết kế chính sách thuế cho khu vực kinh tế số nhằm tạo nguồn thu dài hạn, bù đắp phần nào các khoản chi quá mức ứng phó với đại dịch. Điều này thể hiện một sự thay đổi căn cơ và mang tính hệ thống của chính sách thuế.</p>
<p>(Còn tiếp)</p>
<blockquote><p><strong>Nguồn dẫn: GS. TS. Trần Ngọc Thơ (Đại học Kinh tế)/ Báo đầu tư </strong></p>
<p><strong>Link bài gốc: https://baodautu.vn/hanh-dong-lon-de-khong-lo-chuyen-tau-lich-su-toan-cau-moi&#8212;ky-1-bai-hoc-tu-ho-tro-va-kich-thich-nen-kinh-te-d146478.html</strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>“Hành động lớn” để không lỡ chuyến tàu lịch sử toàn cầu mới &#8211; Kỳ 1: Bài học từ hỗ trợ và kích thích nền kinh tế</title>
		<link>https://kinhtebatdongsan.vn/hanh-dong-lon-de-khong-lo-chuyen-tau-lich-su-toan-cau-moi-ky-1-bai-hoc-tu-ho-tro-va-kich-thich-nen-kinh-te/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đầu tư BĐS]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 08 Jul 2021 03:16:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tế]]></category>
		<category><![CDATA[featured]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Ngọc Thơ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://kinhtebatdongsan.vn/?p=1115</guid>

					<description><![CDATA[Tập trung gói hỗ trợ và kích thích kinh tế đang là lựa chọn của nhiều quốc gia để không lỡ hẹn chuyến tàu chuyển đổi lịch sử sang một nền kinh tế toàn cầu mới. Trong khi các quốc gia giàu có tranh luận sôi nổi về việc cần phải “hành động lớn” bằng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Tập trung gói hỗ trợ và kích thích kinh tế đang là lựa chọn của nhiều quốc gia để không lỡ hẹn chuyến tàu chuyển đổi lịch sử sang một nền kinh tế toàn cầu mới.</p>
<p>Trong khi các quốc gia giàu có tranh luận sôi nổi về việc cần phải “hành động lớn” bằng các gói kích thích tài khóa, tiền tệ vừa lớn, vừa chưa có tiền lệ nhằm ứng phó với Covid-19, thì các quốc gia mới nổi lại xem chống dịch là ưu tiên hàng đầu, đồng thời thúc đẩy các cải cách mang tính cấu trúc. Vậy phải làm gì để đừng lỡ hẹn chuyến tàu lịch sử toàn cầu mới?</p>
<p><strong>Kỳ 1: Bài học từ hỗ trợ và kích thích nền <a href="https://baodautu.vn/thoi-su-d1/" target="_blank" rel="noopener">kinh tế</a></strong></p>
<p>Tập trung gói hỗ trợ và kích thích kinh tế đang là lựa chọn của nhiều quốc gia để không lỡ hẹn chuyến tàu chuyển đổi lịch sử sang một nền kinh tế toàn cầu mới, được xây dựng trên nền tảng xanh và kỹ thuật số.</p>
<p><strong>Bài học thất bại của các gói kích thích kinh tế ở các nền kinh tế mới nổi</strong></p>
<p>Các nước giàu có, được tích lũy nguồn lực từ thời kỳ đại bình ổn nhiều thập kỷ trước, dư thừa nguồn lực để thực hiện các chính sách bơm tiền vào nền kinh tế với quy mô lớn chưa từng có, bắt đầu từ cuộc khủng hoảng <a href="https://baodautu.vn/tai-chinh-bao-hiem-d6/" target="_blank" rel="noopener">tài chính</a> năm 2008 và hiện vẫn tiếp tục với quy mô ngày càng lớn hơn để đối phó với đại dịch.</p>
<p>Các quốc gia mới nổi cũng mô phỏng theo các nước phát triển bằng các gói kích thích kinh tế, thậm chí rất hào phóng, để đối phó với khủng hoảng tài chính năm 2008. Một phần sự hào phóng này do nhiều nền kinh tế mới nổi có tiềm năng tăng trưởng cao gần 2 con số trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, đáng buồn là, tất cả những khoản chi tiêu khổng lồ chỉ tạo ra một sự tăng trưởng trong thời gian ngắn, để rồi sau đó lụi tàn dần. Các nền kinh tế mới nổi giờ được nhắc đến nhiều hơn với rủi ro thường trực để trả những món nợ vượt quá khả năng chi trả.</p>
<p>Khi Covid-19 xảy ra vào năm 2020, các nền kinh tế mới nổi không còn đủ nguồn lực để thông qua các gói kích thích tài khóa như trước đây. Họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thúc đẩy cải cách để nâng cao năng suất. Các gói kích thích tài khóa, tiền tệ và bảo lãnh tín dụng của nhà nước ở các nền kinh tế mới nổi tăng từ 6% GDP vào năm 2008 lên đến 9% GDP vào năm 2020. Tuy vậy, chúng vẫn còn rất nhỏ so với quy mô các gói kích thích kinh tế của các nước phát triển (từ 10% GDP năm 2008 lên đến 33% GDP trong năm 2020). Các quốc gia phát triển đã chi cho các gói kích thích kinh tế vào năm 2020 nhiều hơn gần 4 lần so với các nước đang phát triển.</p>
<p>Trung Quốc là trường hợp đáng lưu ý nhất. Các gói kích thích tài khóa năm 2008 lên đến 14% GDP đã được nhiều tổ chức ca ngợi hết lời là đã “giải cứu” nền kinh tế toàn cầu thoát khỏi suy thoái. Kết cục, Trung Quốc đang bắt đầu gánh chịu hậu quả với quả bom nợ khổng lồ, nguy cơ bong bóng tài chính và tăng trưởng bắt đầu chậm dần lại đáng kể. Phản ứng với Covid-19, các gói kích thích kinh tế của Trung Quốc chỉ còn khoảng 9% GDP.</p>
<p>Phản ứng với đại dịch, các nước đang phát triển, thay vì tập trung quá mức vào tính toán các gói kích thích kinh tế đủ lớn như thế nào, lại đặt cược vào bài toán làm thế nào thúc đẩy hàng loạt cải cách nhằm nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng.</p>
<p>Truyền thông thế giới đưa tin nhiều về việc nông dân Ấn Độ biểu tình giữa đại dịch do Chính phủ bắt đầu chấm dứt nhiều khoản trợ cấp mang tính bảo hộ nông nghiệp. Nhưng đó là cái giá phải trả của đạo luật nông nghiệp mới, trong một nỗ lực toàn diện nhằm thúc đẩy cạnh tranh khu vực tư nhân để tập trung mọi nguồn lực <a href="https://baodautu.vn/" target="_blank" rel="noopener">đầu tư</a> cho lĩnh vực hạ tầng.</p>
<p>Indonesia cảm nhận không được hưởng lợi nhiều từ sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế khỏi Trung Quốc do căng thẳng Mỹ &#8211; Trung, nên đang đặt ra chương trình nghị sự đầy tham vọng bằng cách giảm thuế thu nhập <a href="https://baodautu.vn/doanh-nghiep-d3/" target="_blank" rel="noopener">doanh nghiệp</a>, đồng thời quyết liệt truy vết các khoản thuế khu vực kỹ thuật số và chuyển mạnh sang mở cửa thị trường tài chính để phấn đấu GDP tăng bình quân 5%/năm trong nhiều năm tới.</p>
<p>Trong khi đó, Philippines đang nén đau để cắt giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp khá cao, từ 30% xuống 20%, nhằm tăng khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực.</p>
<p>Ai Cập, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, lần đầu tiên cho phép <a href="http://dautubds.baodautu.vn/tag/nguoi-nuoc-ngoai-mua-nha/" target="_blank" rel="noopener">người nước ngoài</a> mua nhà và các doanh nghiệp địa phương.</p>
<p>Đáng ngạc nhiên là, Trung Quốc bắt đầu mở cửa mạnh mẽ hơn nữa thị trường tài chính cho các nhà đầu tư quốc tế, cho dù nguồn lực vẫn còn rất dồi dào.</p>
<p>Rõ ràng, sự bất định phía trước khiến các quốc gia phải cảnh giác mở rộng các bộ đệm tài khóa, tiền tệ để gia tăng sức chống chịu của nền kinh tế.</p>
<p><strong>Một số hàm ý chính sách cho Việt Nam</strong></p>
<p><strong><em>Kế hoạch 3 điểm: “vắc-xin, thể chế, kinh tế xanh và số hóa”</em></strong></p>
<p>Bài học đầu tiên cho Việt Nam là, trong khi xem “chống dịch như chống giặc”, cũng cần phải đặt trọng tâm cho các chiến lược cải cách mang tính cấu trúc.</p>
<p>Về vấn đề này, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) mới đây có khuyến nghị đối với các nước đang phát triển bằng kế hoạch 3 điểm, bắt đầu bằng việc khuyến khích sản xuất và phân phối vắc-xin phòng Covid-19. Sau đó, các chính phủ cần phải cải cách chính sách tài chính công theo hướng giảm dần hỗ trợ cho nền kinh tế, đồng thời dỡ bỏ các rào cản thể chế. Cuối cùng, các chính phủ nên tìm cách đầu tư mạnh mẽ để hướng đến tăng trưởng do đổi mới công nghệ cao hơn và xanh hơn, nhằm phát triển bền vững hơn.</p>
<p>Đối chiếu khuyến nghị 3 điểm của IMF, việc Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 63/NQ-CP 2021 (về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải ngân vốn đầu tư công và xuất khẩu bền vững những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022) đã đề cập tham vọng tiến tới hình thành công nghiệp sản xuất vắc-xin ở nước ta là bước đi đúng hướng, mang tính quyết định mọi thành bại sau này.</p>
<p>Nghị quyết này hầu như đề cập đủ mọi khía cạnh trong kế hoạch 3 điểm của IMF, song các giải pháp trọng tâm lại chưa đề cập đến ít nhất 2 vấn đề cốt lõi. Đó là phát triển nền kinh tế xanh và chống biến đổi khí hậu; mở cửa thị trường tài chính mạnh mẽ hơn nữa để thu hút nhiều hơn các nguồn lực bên ngoài.</p>
<p>IMF khuyến cáo “các quốc gia nghèo hơn có nguy cơ lỡ hẹn chuyến tàu chuyển đổi lịch sử sang một nền kinh tế toàn cầu mới, được xây dựng trên nền tảng xanh và kỹ thuật số”.</p>
<p><em><strong>Rủi ro của việc làm quá nhiều sẽ thấp hơn rủi ro của việc làm quá ít hoặc không dám làm gì</strong></em></p>
<p>Bất chấp nỗ lực chống dịch, hậu quả của đại dịch đã để lại vết sẹo quá lớn cho các nước. Việt Nam cũng không là ngoại lệ và ưu tiên hàng đầu của chúng ta sắp tới là phải chữa lành các tổn thương. Chúng ta phải dám nhìn thẳng sự thật rằng, đã đến lúc chấp nhận tăng đáng kể các khoản chi tiêu đầu tư, tăng nợ công để hỗ trợ các hộ gia đình, người lao động và các doanh nghiệp bị tổn thương. Chúng ta hoàn toàn chia sẻ lo ngại rủi ro tài chính công và tính bền vững của nợ công. Nhưng cũng nên sớm kịp nhận ra rằng, nếu đại dịch không được kiểm soát, hậu quả là sẽ tạo ra rủi ro, thậm chí còn lớn hơn đối với sự thịnh vượng lâu dài của nền kinh tế và tính bền vững tài khóa.</p>
<p>Việc triển khai gói hỗ trợ và kích thích tài khóa lần đầu vào năm 2020 là một dạng thiết kế và thực thi chính sách theo kiểu “rủi ro của việc làm quá ít sẽ thấp hơn rủi ro của việc làm quá nhiều”. Thực tế đã cho thấy, một chính sách như thế ít mang lại hiệu quả, vì chẳng có bao nhiêu đối tượng được thụ hưởng các lợi ích được nêu như kỳ vọng. Vì vậy, gói kích thích tài khóa và hỗ trợ kinh tế sắp tới cần được thiết kế đảo ngược lại, theo phương châm “rủi ro của việc làm quá nhiều sẽ thấp hơn rủi ro của việc làm quá ít hoặc không dám làm gì”. Chúng ta chỉ có hai chọn lựa và chỉ còn cách lựa chọn kịch bản ít xấu nhất.</p>
<p>Gói hỗ trợ kinh tế và kích thích tài khóa phải đủ lớn để bao phủ, đơn giản, nhưng hiệu quả. Chẳng hạn, đối với gói an sinh xã hội hỗ trợ người lao động, nếu chỉ phát tiền cho người lao động, cho người dân, nhưng họ không chi tiêu mà để dành tiết kiệm thì sẽ không (hoặc ít) hiệu quả. Thay vào đó, có thể phát phiếu mua hàng có thời hạn nhất định (vé máy bay, hoặc các mặt hàng cần kích cầu) theo kiểu mua 1 tặng 3. Người dân nhận phiếu chỉ chi trả 1 đồng cho món hàng trị giá 3 đồng, phần chênh lệch sẽ được ngân sách chi trả. Phiếu mua hàng dạng này nếu áp dụng ở các chợ đêm tại các thành phố lớn và nơi du lịch sẽ là mũi tên trúng nhiều đích: hỗ trợ người lao động, trong khi kích cầu ở các khu vực kinh tế bị tổn thương nặng nhất, nhờ đó, giảm nhẹ gánh nặng chi ngân sách ở các khu vực này.</p>
<p><em><strong>Cải cách chính sách thuế</strong></em></p>
<p>Theo IMF, hành động khẩn cấp lúc này là ưu tiên tiêm chủng vắc-xin cho người dân, còn các vấn đề liên quan đến chi tiêu tài khóa và trần nợ công thuộc vấn đề dài hạn. Mặc dù vậy, trong quá trình tiến đến dài hạn, chúng ta cũng phải xử lý dần những rủi ro có khả năng dẫn đến an toàn tài khoá sau này. Đại dịch là một cú sốc tạm thời. Về nguyên tắc, thiết kế nguồn thu để tài trợ cho việc xử lý hậu quả của đại dịch cũng phải mang tính chất tạm thời. Trong bối cảnh đó, các chính sách tăng thuế vào lúc này, thay vì làm ngược lại, vừa ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư, vừa ảnh hưởng đến sức chống chịu của nền kinh tế.</p>
<p>Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã có nhận định đáng lưu ý về vấn đề này khi cho rằng, không chấp nhận làm thuế kiểu “ngứa đâu, gãi đó”. Chúng ta cần lưu ý hai vấn đề.</p>
<p>Thứ nhất, do là cú sốc tạm thời, cơ quan thuế không nhất thiết phải dùng công cụ thuế để tăng nguồn thu. Thay vào đó, có thể mạnh dạn dùng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn ở các doanh nghiệp nhà nước, tiết kiệm nhiều hơn nữa các khoản chi thường xuyên hoặc thậm chí có thể tính tới phương án phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế.</p>
<p>Thứ hai, nhân cơ hội này, biến các khoản thuế từ cú sốc tạm thời thành các khoản thuế mang tính cấu trúc, vĩnh viễn. Đại dịch đã thúc đẩy thương mại điện tử và kinh tế số phát triển chưa từng có. Đây là lúc cơ quan thuế nên tập trung tối đa nguồn lực thiết kế chính sách thuế cho khu vực kinh tế số nhằm tạo nguồn thu dài hạn, bù đắp phần nào các khoản chi quá mức ứng phó với đại dịch. Điều này thể hiện một sự thay đổi căn cơ và mang tính hệ thống của chính sách thuế.</p>
<p>(Còn tiếp)</p>
<blockquote><p><strong>Nguồn dẫn:  GS-TS Trần Ngọc Thơ (Đại học Kinh tế TP.HCM/ Báo đầu tư </strong></p>
<p><strong>Link bài gốc: https://baodautu.vn/hanh-dong-lon-de-khong-lo-chuyen-tau-lich-su-toan-cau-moi&#8212;ky-1-bai-hoc-tu-ho-tro-va-kich-thich-nen-kinh-te-d146478.html</strong></p></blockquote>
<div class="ml-auto">
<div class="fl">
<div class="fb-like fb_iframe_widget" data-href="https://baodautu.vn/hanh-dong-lon-de-khong-lo-chuyen-tau-lich-su-toan-cau-moi---ky-1-bai-hoc-tu-ho-tro-va-kich-thich-nen-kinh-te-d146478.html" data-send="true" data-layout="button_count" data-width="500" data-show-faces="true" data-font="tahoma"></div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
