<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Năng lượng sạch &#8211; Kinh Tế Bất Động Sản</title>
	<atom:link href="https://kinhtebatdongsan.vn/tag/nang-luong-sach/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kinhtebatdongsan.vn</link>
	<description>Real Estate Economics</description>
	<lastBuildDate>Sun, 12 Nov 2023 07:00:13 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=5.4.19</generator>

<image>
	<url>https://kinhtebatdongsan.vn/wp-content/uploads/2023/11/ICON-75x75.png</url>
	<title>Năng lượng sạch &#8211; Kinh Tế Bất Động Sản</title>
	<link>https://kinhtebatdongsan.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Ninh Thuận phát triển năng động với kinh tế biển, kinh tế đô thị là động lực tăng trưởng</title>
		<link>https://kinhtebatdongsan.vn/ninh-thuan-phat-trien-nang-dong-voi-kinh-te-bien-kinh-te-do-thi-la-dong-luc-tang-truong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đầu tư BĐS]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 12 Nov 2023 07:00:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tế]]></category>
		<category><![CDATA[Cà Ná]]></category>
		<category><![CDATA[cảng tổng hợp quốc gia]]></category>
		<category><![CDATA[Điều chỉnh quy hoạch]]></category>
		<category><![CDATA[featured]]></category>
		<category><![CDATA[Khu vực miền trung]]></category>
		<category><![CDATA[Năng lượng sạch]]></category>
		<category><![CDATA[Ninh Chữ]]></category>
		<category><![CDATA[Ninh Thuận]]></category>
		<category><![CDATA[Tẳng trưởng trung bình]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://kinhtebatdongsan.vn/?p=5805</guid>

					<description><![CDATA[Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 1319/QĐ-TTg ngày 10/11/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Ninh Thuận thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Mục tiêu tổng quát phấn đấu đến năm 2030, tỉnh Ninh Thuận trở thành tỉnh có mức thu nhập bình quân thuộc nhóm trung [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p class="detail-sapo" data-role="sapo">Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 1319/QĐ-TTg ngày 10/11/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Ninh Thuận thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.</p>
<p>Mục tiêu tổng quát phấn đấu đến năm 2030, tỉnh Ninh Thuận trở thành tỉnh có mức thu nhập bình quân thuộc nhóm trung bình cao của cả nước, phát triển năng động, nhanh và bền vững với kinh tế biển, kinh tế đô thị là động lực tăng trưởng; phát triển trọng tâm tại khu vực phía Nam tỉnh tạo tiền đề cơ sở hình thành Khu kinh tế ven biển; có kết cấu hạ tầng kinh tế &#8211; xã hội đồng bộ, có khả năng chống chịu cao với thiên tai, dịch bệnh và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu đặc biệt là nguồn tài nguyên nước cần được đảm bảo nhu cầu sử dụng, điều hòa, phân phối hợp lý đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế &#8211; xã hội. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc.</p>
<p>Về kinh tế, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10 -11%/năm; GRDP bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt khoảng 200 triệu đồng. Tỷ trọng GRDP của khu vực công nghiệp &#8211; xây dựng khoảng 53 &#8211; 54%; khu vực dịch vụ khoảng 34 &#8211; 35%; khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản khoảng 12 &#8211; 13%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm khoảng 2 &#8211; 3%. Phấn đấu kinh tế số chiếm khoảng 30% GRDP vào năm 2030.</p>
<p>Dân số tăng bình quân khoảng 1,89%/năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 75 &#8211; 80%; trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt trên 40%. Chỉ số phát triển con người (HDI) bằng mức trung bình cả nước.</p>
<p>Tỷ lệ đô thị hóa khoảng 55 &#8211; 56%; bảo đảm 100% đô thị loại III trở lên hoàn thiện tiêu chí phân loại đô thị về cơ sở hạ tầng đô thị, nhất là hạ tầng về y tế, giáo dục, đào tạo và các công trình văn hóa cấp đô thị.</p>
<p>Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (theo chuẩn mới) giảm bình quân 1,5- 2%/năm và đến năm 2030 còn dưới 1,5%.</p>
<p><strong>Năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng khoảng 12% GRDP của tỉnh</strong></p>
<p>Về phát triển kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tỉnh Ninh Thuận, đáp ứng các chỉ tiêu đối với từng đô thị trong tỉnh; phát triển hệ thống cảng biển Ninh Thuận, gồm khu bến Cà Ná và khu bến Ninh Chữ là cảng tổng hợp quốc gia, đóng vai trò đầu mối khu vực với chức năng bến cảng tổng hợp, hàng rời, hàng container, hàng lỏng/khí.</p>
<p>Theo phương hướng phát triển, phấn đấu đến năm 2030 năng lượng, năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng khoảng 12% GRDP của tỉnh, giải quyết 7,3% nhu cầu việc làm trong toàn tỉnh. Tập trung khai thác các tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên nắng, gió để phát triển điện mặt trời, điện gió ven bờ, điện gió ngoài khơi, điện khí LNG, thủy điện tích năng, nguồn năng lượng mới (hydro, thủy triều, sinh khối,…).</p>
<p><strong>Du lịch phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn</strong></p>
<p>Đến năm 2030, du lịch phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo hướng bền vững, đóng góp 15% GRDP toàn tỉnh.</p>
<p>Du lịch Ninh Thuận trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, có năng lực cạnh tranh cao so với khu vực và cả nước. Phát triển theo hướng &#8220;Bền vững – Chất lượng cao &#8211; Độc đáo&#8221;; vừa phát triển du lịch truyền thống, vừa tạo dựng các loại hình mới, độc đáo về khí hậu, khám phá sáng tạo là điểm đến hấp dẫn, khác biệt, có sức cạnh tranh cao đối với các khu vực trong nước và quốc tế; khai thác hiệu quả lợi thế tài nguyên du lịch hiện có và biến những hạn chế thành tiềm năng du lịch khác biệt; tập trung nguồn lực đầu tư phát triển khu du lịch Quốc gia Ninh Chữ.</p>
<p>Đến năm 2030 tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm 40% giá trị GRDP toàn tỉnh. Tỷ trọng ngành nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 7-8% GRDP của tỉnh&#8230;</p>
<p><b>Nguồn dẫn: Vũ Phương Nhi/ Cổng thông tin điện tử Chính phủ</b></p>
<p>Link bài gốc: https://baochinhphu.vn/ninh-thuan-phat-trien-nang-dong-voi-kinh-te-bien-kinh-te-do-thi-la-dong-luc-tang-truong-102231110205921224.htm</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Gỡ khó phát triển năng lượng tái tạo &#8211; Bài cuối: MB &#8216;hiến kế&#8217; thúc đẩy tín dụng xanh</title>
		<link>https://kinhtebatdongsan.vn/go-kho-phat-trien-nang-luong-tai-tao-bai-cuoi-mb-hien-ke-thuc-day-tin-dung-xanh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đầu tư BĐS]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 03 Jul 2021 02:24:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyên đề]]></category>
		<category><![CDATA[featured]]></category>
		<category><![CDATA[Năng lượng sạch]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Nam Group]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://kinhtebatdongsan.vn/?p=1046</guid>

					<description><![CDATA[Phát triển năng lượng tái tạo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. 3 năm trở lại, năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời, rồi điện gió phát triển rất nhanh, tới cuối năm 2020 đã nối lưới 17.000 MW, chiếm 25% tổng công suất hệ thống điện quốc gia. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Phát triển năng lượng tái tạo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. 3 năm trở lại, năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời, rồi điện gió phát triển rất nhanh, tới cuối năm 2020 đã nối lưới 17.000 MW, chiếm 25% tổng công suất hệ thống điện quốc gia.</p>
<p>Tuy nhiên, thực tế triển khai vừa qua đã bộc lộ nhiều bất cập, tiềm ẩn rủi ro đối với cả từ phía doanh nghiệp lẫn tổ chức cấp tín dụng, là bước cản cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của thị trường quan trọng này.</p>
<p>Tạp chí Nhà đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Như Ánh, Thành viên Ban điều hành Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) để có thêm góc nhìn cụ thể từ một trong những ngân hàng hoạt động tích cực nhất trong mảng tín dụng xanh.</p>
<p><em><strong>Thời gian qua, nhiều ngân hàng đang tích cực thúc đẩy các khoản vay tín dụng xanh/ trái phiếu xanh nhằm thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, có một số rủi ro nhất định liên quan đến khoản vay xanh này, chẳng hạn như tỷ lệ đòn bẩy của người nợ hoặc chất lượng của các dự án năng lượng. Ông nghĩ sao về vấn đề này?</strong> <strong>Những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến tín dụng xanh trong bối cảnh hiện nay là gì? </strong></em></p>
<p>Trước hết, tín dụng (hay khoản vay) xanh được hiểu là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, sản xuất kinh doanh mà không gây rủi ro đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái chung. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tín dụng xanh là các dự án được tài trợ vốn đáp ứng các tiêu chí cụ thể đối với 12 lĩnh vực bao gồm: Nông nghiệp xanh, lâm nghiệp bền vững, công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo/năng lượng sạch, tái chế, sử dụng các nguồn tài nguyên, xử lý chất thải và phòng chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường thiên nhiên, công trình xây dựng xanh, giao thông bền vững,&#8230;T</p>
<p>rong thời gian gần đây, chúng ta đang tập trung mạnh vào năng lượng tái tạo, cụ thể là điện mặt trời và điện gió. Về nhận định tín dụng (khoản vay) xanh phát sinh những rủi ro nhất định, theo quan điểm của tôi, nhận định này là hoàn toàn chính xác và cũng là thông thường trên góc độ bất cứ khoản cấp tín dụngn ào tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Đặc biệt, với tín dụng xanh, một lĩnh vực đã rất quen thuộc tại các đất nước phát triển trên thế giới nhưng còn khá mới mẻ đối với Việt Nam.</p>
<p>Rủi ro liên quan đến khoản tín dụng xanh có thể phát sinh từ những 5 vấn đề trọngyếu sau:</p>
<p>&#8211; Rủi ro trong việc thẩm định dự án gặp phải những vấn đề khá phức tạp do đặc trưng của các dự án xanh đòi hỏi tổng mức đầu tư lớn, công nghệ thiết bị mới có tính kỹ thuật cao, hành lang quy định pháp lý về ngành/lĩnh vực chưa đẩy đủ, thời gian hoàn vốn dài, rủi ro thị trường&#8230;.</p>
<p>&#8211; Rủi ro trong việc cân đối và đáp ứng nguồn vốn cho dự án: Tín dụng xanh đòi hỏi vốn vay trung dài hạn lớn, trong thời gian dài. Trong khi nguồn vốn của các NHTM chủ yếu là nguồn vốn huy động ngắn hạn, với chi phí lãi suất khá cao, chưa có các chính sách ưu đãi/đặc thù từ NHNN thì việc cân đối tham gia tín dụng xanh cũng có thể đặt ngân hàng vào tình trạng rủi ro về cân đối vốn.</p>
<p>&#8211; Rủi ro về tài sản đảm bảo: TSĐB chủ yếu là tài sản hình thành từ vốn vay của chính là các dự án/công trình xanh, tính thanh khoản không cao, khả năng xử lý TSĐB cũng khá đặc thù.</p>
<p>&#8211; Rủi ro về doanh thu/hiệu quả dự án: Rủi ro này đến từ các yếu tố chính yếu sau:</p>
<p>Điều kiện tự nhiên: Sản lượng, doanh thu của các dự án không ổn định và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên (khả năng bức xạ mặt trời, tốc độ gió&#8230;).Trong bối cảnh toàn cầu bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19, việc cung cấp thiết bị, thực hiện lắp đặt cần có sự tham gia của các đối tác/chuyên gia nước ngoài cũng gặp khá nhiều khó khăn, dẫn đến chậm chễ, gián đoạn trong khâu triển khai.</p>
<p>Hạ tầng và quản lý cung cầu của EVN: Hạ tầng đấu nối truyền tải điện không đủ khả năng giải phóng công suất phát điện. Ngoài ra, nguồn cung tăng nhanh và dồi dào từ các dự án điện áp mái, điện mặt trời, điện gió để tận dụng cơ chế giá điện FIT dẫn đến nguy cơ cung điện năng lượng tái tạo vượt cầu, buộc EVN phải đưa ra bài toán giảm tải phát điện năng lượng tái tạo, gây ảnh hưởng đến doanh thu của các nhà máy điện.</p>
<p>Chính sách giá điện: Đến thời điểm hiện tại, để được hưởng chính sách giá điện theo giá FIT, các dự án điện gió cần vận hành thương mại (COD) trước 1/11/2021. Tuy nhiên, đối với các dự án hiện đang triển khai nhưng khả năng COD trước thời hạn này khó khả thi hoặc có kế hoạch triển khai trong tương lai chưa có tham chiếu về giá điện dẫn đến những khó khăn trong việc xác định hiệu quả dự án làm cơ sở trong việc xem xét tài trợ vốn từ các tổ chức tín dụng.</p>
<p>Quy hoạch định hướng phát triển ngành điện: Tiếp theo sau điện mặt trời, điện gió, dự thảo Quy hoạch điện VIII với trọng tâm là điện LNG cũng đặt ra bài toán về quy hoạch phát triển, chính sách giá điện&#8230;có thể sẽ tiếp tục thay đổi cục diện và khó nhận diện hết những khó khăn về hiệu quả kinh doanh của các dự án năng lượng tái tạo đang triển khai.</p>
<p>&#8211; Rủi ro về chính sách: Tín dụng xanh được quy hoạch là định hướng trọng tâm phát triển của Chính phủ, tuy nhiên, đến hiện tại, chưa có một bộ công cụ đầy đủ và đủ mạnh để thúc đấy tín dụng xanh phát triển, cụ thể: Hành lang pháp lý chưa đầy đủ và rõ ràng; Chính sách hỗ trợ từ Chính phủ, NHNN cho các chủ đầu tư hoặc cho các ngân hàng thương mại tài trợ lĩnh vực này chưa đủ mạnh; Thay đổi trong chính sách điều hành có thể gây rủi ro cho ngân hàng tài trợ.</p>
<p><em><strong>Là ngân hàng hàng đầu trong việc cung cấp tín dụng thân thiện với môi trường, MB kỳ vọng như thế nào trong lĩnh vực tín dụng xanh?</strong></em></p>
<p>Với vai trò là ngân hàng tham gia tài trợ trong lĩnh vực xanh, MB kỳ vọng trong tương lai sẽ có những thay đổi/điều chỉnh theo hướng tích cực như sau: Dưới góc độ vĩ mô, về mặt chính sách, MB kỳ vọng: Chính phủ, cơ quan Bộ/Ban/Ngành sớm ban hành danh mục và tiêu chí xác định dự án xanh phù hợp với phân ngành kinh tế hiện tại của Việt Nam; Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách (thuế, phí, kỹ thuật, thị trường, quy hoạch, chiến lược phát triển&#8230;) của từng ngành/lĩnh vực xanh.</p>
<p>Chính phủ và NHNN ban hành chính sách hỗ trợ cho chủ đầu tư trong việc có các công cụ bảo lãnh vay vốn để tiếp cận được các nguồn vốn nước ngoài với chi phí hợp lý; Hỗ trợ cho ngân hàng thương mại về nguồn vốn trung dài hạn, vốn ưu đãi dành cho lĩnh vực xanh có thể thông qua các giải pháp như áp dụng hệ số rủi ro tín dụng (RWA) thấp hơn cho tín dụng xanh, nâng giới hạn trần tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng có quy mô tín dụng xanh lớn; Nâng tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn tài trợ trung dài hạn; Tạo cơ chế đồng bộ để ngân hàng thương mại có thể cấp bảo lãnh thanh toán cho các khoản vay tín dụng xuất khẩu (ECA),&#8230;iii) Chính phủ và EVN sớm ban hành quy hoạch cụ thể về định hướng phát triển ngành điện, chính sách giá điện mới sau giá FIT hiện tại để làm cơ sở cho các chủ đầu tư và các TCTD cùng đánh giá hiệu quả dự án, phương án tài chính triển khai.</p>
<p>Dưới góc độ MB, chúng tôi sẽ chủ động, mạnh mẽ, quyết liệt hơn trong việc nghiên cứu sâu các lĩnh vực/ngành nghề xanh để có phương án tiếp cận tốt nhất với mục tiêu tài trợ thành công các dự án tín dụng xanh mang lại lợi ích cho xã hội, khách hàng và ngân hàng. Bên cạnh đó, MB cũng xây dựng và thiết lập các hệ thống đánh giá, quản trị rủi ro đồng bộ, tiên tiến, cập nhật những biến động một cách nhanh và hiệu quả nhất để kịp thời có những giải pháp cho các tình huống khó khăn.</p>
<p>Với việc xác định lĩnh vực xanh là một trong những xu thế tất yếu và mang lại lợi ích rất lớn cho xã hội và cộng đồng, MB khẳng định sự quan tâm của mình trong việc tài trợ tín dụng xanh và luôn mong muốn được sự hướng dẫn từ các cơ quan quản lý, Ngân hàng nhà nước, sự chia sẻ, phối hợp của các tổ chức tín dụng, sự quan tâm, ủng hộ của khách hàng để hoàn thành tốt hơn nữa vai trò cấp tín dụng xanh của MB.</p>
<p><em><strong>Xin cảm ơn ông! </strong></em></p>
<blockquote><p><strong>Nguồn dẫn: Khánh An/ Nhà đầu tư </strong></p>
<p><strong>Link bài gốc: https://nhadautu.vn/go-kho-phat-trien-nang-luong-tai-tao&#8211;bai-cuoi-mb-hien-ke-thuc-day-tin-dung-xanh-d53705.html</strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Gỡ khó phát triển năng lượng tái tạo &#8211; Bài 2: Khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục</title>
		<link>https://kinhtebatdongsan.vn/go-kho-phat-trien-nang-luong-tai-tao-bai-2-kho-khan-vuong-mac-va-giai-phap-khac-phuc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đầu tư BĐS]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 01 Jul 2021 04:42:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyên đề]]></category>
		<category><![CDATA[diện gió]]></category>
		<category><![CDATA[featured]]></category>
		<category><![CDATA[Năng lượng sạch]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://kinhtebatdongsan.vn/?p=996</guid>

					<description><![CDATA[Phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được cụ thể hoá tại Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị đến các quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển NLTT và cơ chế khuyến khích phát triển các dự [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được cụ thể hoá tại Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị đến các quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển NLTT và cơ chế khuyến khích phát triển các dự án NLTT; nguồn NLTT của Việt Nam.</p>
<p>Đến cuối năm 2020, tổng công suất nguồn điện mặt trời, điện gió đã đạt trên 17 nghìn MW, chiếm 25% tổng công suất hệ thống điện quốc gia. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, NLTT vẫn đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; ngăn cản NLTT cạnh tranh hiệu quả với nguồn năng lượng truyền thống và cản trở việc triển khai quy mô lớn cần thiết đối với nguồn NLTT, tập trung ở 4 nhóm yếu tố: Pháp lý, tài chính, công nghệ và xã hội.</p>
<p><strong>Hành lang pháp lý</strong></p>
<p>Các vướng mắc, bất cập về chính sách và các quy định pháp luật hiện hành được thể hiện qua một số nội dung sau:</p>
<p>Thị trường NLTT cần có các chính sách và thủ tục pháp lý rõ ràng để tăng sự quan tâm của các nhà đầu tư. Các cơ quan quản lý nhà nước cần đưa ra các chính sách với các điều kiện tạo ra môi trường đầu tư ổn định và có thể dự đoán được dòng doanh thu của các dự án.</p>
<p>Trong khi các cơ chế hỗ trợ thời gian qua chưa đưa ra được định hướng lâu dài: Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời quy định một số dựán điện mặt trời nối lưới và các dự án điện mặt trời mái nhà đáp ứng các điều kiện được áp dụng biểu giá hỗ trợ (giá FIT) khi đưa vào vận hành thương mại đến ngày 31/12/2020. Bộ Công thương nghiên cứu hoàn chỉnh cơ chế đấu thầu các dự án điện mặt trời để áp dụng từ năm 2021.</p>
<p>Như vậy, từ đầu năm 2021 đến nay, các dự án điện mặt trời không được áp dụng biểu giá FIT, trong khí cơ chế đấu thầu chưa được ban hành. Tương tự, các dự án điện gió sau ngày 1/11/2021 cũng chưa có cơ chế áp dụng.- Giá hỗ trợ (FIT) được áp dụng thống nhất trong cả nước dẫn đến hiện tượng tập trung phát triển tại các khu vực có tiềm năng kinh tế lớn (bức xạ điện mặt trời cao, tốc độ gió bình quân lớn), hệ quả là quá tải lưới điện một số khu vực hoặc đầu tư tại những nơi có nhu cầu điện thấp, phải tải điện đi xa.</p>
<p>Để khắc phục nhược điểm này, cần có chính sách khuyến khích phát triển theo vùng, miền. Giá FIT được áp dụng chung, không phân biệt quy mô sẽ dẫn đến bất cập, các dự án có quy mô lớn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn các dự án có quy mô nhỏ hơn nếu có các điều kiệntự nhiên tương tự. Đề nghị cơ chế giá FIT chỉ áp dụng cho dự án có quy mô nhỏ (khoảng vài MW), đối với các dự án có quy mô từ vài chục MW trở lên, thực hiện đàm phán mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị mua điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam với nhà đầu tư, đảm bảo dự án có thể thu hồi vốn và có mức lợi nhuận hợp lý.</p>
<p>Trong cơ chế hỗ trợ các dự án điện mặt trời mái nhà có một số bất cập: (i) Quy định hệ thống điện mặt trời mái nhà có công suất không quá 1 MW, áp dụng chung cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp là chưa hợp lý. Điều này dẫn đến nhiều cơ quan, doanh nghiệp có diện tích mái công trình xây dựng lớn, có thể xây dựng điện mặt trời với công suất lớn hơn để cấp điện cho nhu cầu của mình cũng không được xây dựng, gây nên lãng phí tài nguyên và nguồn lực.</p>
<p>Đề nghị phân tách quy định này thành 2 phần, đối với các hộ gia đình, quy định công suất tối đa nhỏ hơn (khoảng vài chục kW); đối với các cơ quan, doanh nghiệp, có thể quy định công suất điện mặt trời không vượt quá nhu cầu công suất cực đại, không hạn chế công suất tối đa. (ii) Quy định các hộ gia đình phải bán toàn bộ điện sản xuất và mua toàn bộ nhu cầu điện từ đơn vị điện lực, sẽ dẫn đến các hộ gia đình phải trả 2 lần thuế cho cùng một đơn vị điện năng: trả thuế VAT cho lượng điện mua từ đơn vị điện lực và trả thuế thu nhập cho khoản tiền bán điện. Để khắc phục bất cập này, đề nghị áp dụng theo cơ chế thanh toán bù trừ (net mettering) như phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015.</p>
<p>Thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn của các dựán năng lượng tái tạo: Cần có các tiêu chuẩn và chứng chỉ để đảm bảo rằng thiết bị được sản xuất hoặc mua sắm từ nước ngoài phù hợp với tiêu chuẩn hiện hành. Việc ban hành các tiêu chuẩn cần thiết nhằm đảm bảo rằng các doanh nghiệp đang vận hành nhà máy đã tuân thủ luật pháp hiện hành. Việc chưa có các tiêu chuẩn cần thiết cũng gây ra sự nhầm lẫn và các nhà sản xuất năng lượng tái tạo phải đối mặt với những khó khăn không cần thiết.</p>
<p><strong>Bài toán tài chính</strong></p>
<p>Các khó khăn về kinh tế và tài chính của dự án NLTT là vốn ban đầu cao, thiếu các tổ chức tài chính, thiếu nhà đầu tư, cạnh tranhtừ nhiên liệu hóa thạch và ít trợ cấp hơn so với nhiên liệu truyền thống. Những yếu tố này đã ngăn cản NLTT trở nên phổ biến.</p>
<p>Các dự án NLTT hiện khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng trong nước, do nhiều ngân hàng xem NLTT có rủi ro cao nên yêu cầu tỷ lệ vốn chủ đầu tư cao (từ 30-40%) và lãi suất vay vốn cao (từ 10% trở lên), đã gây nhiều khó khăn cho quá trình thu xếp tài chính. Việc vay vốn từ các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài, mặc dù lãi suất thấp hơn (khoảng 4-5%), nhưng doanh nghiệp trong nước cũng khó tiếp cận được do yêu cầu phải có bảo lãnh Chính phủ.</p>
<p>Để đảm bảo hiệu quả và sớm triển khai đưa dự án vào hoạt động theo tiến độ, các nhà đầu tư trong nước thường hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài dưới hình thức chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án để được tiếp cận nguồn vốn vay từ nước ngoài với lãi suất thấp.</p>
<p>Ngoài hỗ trợ về cơ chế chính sách, trợ cấp từ ngân sách cho dự án năng lượng tái tạo không đáng kể. Để tạo nguồn tài chính hỗ trợ, đề nghị Chính phủ sớm ban hành chính sách các tổ chức, cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch cho mục đích năng lượng phải đóng phí môi trường tương ứng với khối lượng nhiên liệu được sử dụng. Một phần phí môi trường được sử dụng cho khuyến khích phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo thông qua Quỹ phát triển năng lượng bền vững.</p>
<p><strong>Vướng mắc công nghệ</strong></p>
<p>Phát triển không đồng bộ giữa các dự án NLTT với lưới điện truyền tải: Để xây dựng và đưa vào vận hành một dự án NLTT thường chỉ mất khoảng 6 tháng tới một năm, trong khi để triển khai các thủ tục đầu tư và xây dựng một công trình đường dây, hoặc trạm biến áp truyền tải thông thường từ 2 đến 3 năm, nếu vướng mắc về đền bù, giải phóng mặt bằng, v.v&#8230; thì  thời gian cón kéo dài thêm 1 &#8211; 2 năm. Việc không đồng bộ giữa phát triển nguồn NLTT và lưới điện truyền tải đã gây ra các điểm “nghẽn” về truyền tải, phải giảm công suất phát của các nguồn.</p>
<p>Để khắc phục, cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các bên liên quan: Cơ quan quản lý nhà nước Trung ương và địa phương, chủ đầu tư và đơn vị điện lực trong quá trình thẩm định, phê duyệt Quy hoạch, chủ trương đầu tư trong quá trình chuẩn bị đầu tư và đầu tư. Lưới điện cần được đầu tư mới hoặc nâng cấp trước khi kết nối với các nguồn điện sử dụng NLTT.</p>
<p>Nếu chưa có thỏa thuận liên quan đến trách nhiệm của mỗi bên trong việc thực hiện đầu tư lưới điện thì không được khởi công xây dựng công trình. Các dự án điện gió, điện mặt trời có công suất biến đổi phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên (tốc độ gió, bức xạ mặt trời), điều này ảnh hưởng một phần đến quá trình vận hành hệ thống điện. Khi tỷ trọng các nguồn điện gió, điện mặt trời tăng lên trong thời gian tới, cần có giải pháp để đảm bảo vận hành an toàn,liên tục hệ thống điện quốc gia.</p>
<p>Các giải pháp cần thực hiện, gồm: Nâng cao độ chính xác của công tác dự báo thời tiết; kết hợp phát triển các nguồn thủy điện, thủy điện tích năng, Tuabin khí đơn; phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng quy mô lớn và đầu tư phát triển, cải tạo hệ thống lưới truyền tải; thực hiện quản lý phía cầu. Thiếu nguồn nhân lực trình độ cao: Vì công nghệ năng lượng tái tạo tương đối mới, Việt Nam hiện thiếu hụt nguồn nhân lực trong tất cả các lĩnh vực, từ đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì,&#8230;Trong nhiều trường hợp phải thuê chuyên gia nước ngoài. Việc thiếu thiết bị, linh kiện và phụ tùng thay thế cũng đòi hỏi chi phí sản xuất tăng đáng kể, bởi các mặt hàng này cần phải nhập khẩu từ các nước khác, do đó phải mua với giá cao và do đó làm tăng chi phí chung.</p>
<p>Để khắc phục cần phải thực hiện đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLTT, trong tất cả các khâu: Đào tạo cơ bản các cấp từ phổ thông đến đại học, dạy nghề; tiếp thu, tiến tới tự chủ về công nghệ, nâng cao khả năng chế tạo thiết bị thay thế.</p>
<p><strong>Các khó khăn, vướng mắc trong việc chấp nhận từ xã hội</strong></p>
<p>Có hiện tượng mọi người nói chung ủng hộ NLTT, nhưng lại phản đối dự án ở khu vực lân cận của họ. Các đề xuất dự án điện tái tạo thường vấp phải sự phản đối của người dân và một số tổ chức xã hội. Sự phản đối của công chúng xảy ra vì một số lý do, bao gồm tác động cảnh quan, suy thoái môi trường và thiếu sự quan tâm tham vấn giữa các cộng đồng địa phương.</p>
<p>Các dự án NLTT có các đặc thù: Đối với các dự án điện gió, chỉ sử dụng đất lâu dài đối với cột điện gió và một phần diện tích cần thiết để tập kết vật tư cho sửa chữa, bảo dưỡng; đối với các dự án điện mặt trời, diện tích đất vẫn có thể canh tác các cây trồng phù hợp (đối với các dự án trên mặt đất) hoặc nuôi trồng thủy sản (đối với các dự án trên mặt nước). Như vậy, các dự án NLTT có thể kết hợp với sản xuất nông nghiệp.</p>
<p>Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án NLTT như hiện nay đang gặp một số khó khăn bất cập:</p>
<p>&#8211; Phải thực hiện các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, cần điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Việc này dẫn đến công tác chuẩn bị đầu tư kéo dài, tăng chi phí của dự án.</p>
<p>&#8211; Tại hầu hết các dự án đều có vướng mắc giữa nhà đầu tư và người nông dân bị thu hồi đất do hiện nay đơn giá bồi thường, giải phóng mặt bằng do các địa phương ban hành thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Ngoài ra, người nông dân bị thu hồi đất, sẽ không có đất để mưu sinh, dễ bị bần cùng hóa, ảnh hưởng đến phát triển bền vững tại khu vực nông thôn.</p>
<p>Để khắc phục tình trạng này có thể thực hiện theo các hướng người nông dân cho doanh nghiệp thuê đất để thực hiện dự án, giá thuê đất có thể thay đổi theo thời gian theo cơ chế thị trường, người nông dân vẫn sản xuất trên đất của mình. Theo phương án này, chủ đầu tư cũng không phải thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất.</p>
<p><strong>Kết luận</strong></p>
<p>Về lâu dài, do nhận thức về tác hại môi trường ngày càng được nâng cao, nguồn nhiên liệu hoá thạch (than, khí đốt) ngày càng cạn kiệt, không bền vững, nguồn năng lượng tái tạo có tác động tối thiểu đến môi trường và không cạn kiệt, sẽ là một giải pháp cho vấn đề bền vững lâu dài. Tuy nhiên, mặc dù ngày càng nhận thức được những lợi thế đa dạng của năng lượng tái tạo, nhưng sự phổ biến của năng lượng tái tạo tại Việt Nam còn hạn chế.</p>
<p>Với việc nhận diện được các khó khăn, vướng mắc về pháp lý, kinh tế, công nghệ và xã hội và đề xuất các giải pháp tháo gỡ; với sự chung tay, giúp sức của các cấp quản lý tại Trung ương, địa phương, sự nỗ lực của các doanh nghiệp liên quan, nguồn năng lượng tái tạo được kỳ vọng sẽ phát triển nhanh chóng trong thời gian tới.</p>
<blockquote><p><strong>Nguồn: Nguyễn Văn Vy/ Nhà đầu tư </strong></p>
<p><strong>Link bài gốc: https://nhadautu.vn/go-kho-phat-trien-nang-luong-tai-tao&#8211;bai-2-kho-khan-vuong-mac-va-giai-phap-khac-phuc-d53695.html</strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Gỡ khó phát triển năng lượng tái tạo &#8211; Bài 1: Bức tranh toàn cảnh</title>
		<link>https://kinhtebatdongsan.vn/go-kho-phat-trien-nang-luong-tai-tao-bai-1-buc-tranh-toan-canh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đầu tư BĐS]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 30 Jun 2021 07:52:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyên đề]]></category>
		<category><![CDATA[diện gió]]></category>
		<category><![CDATA[featured]]></category>
		<category><![CDATA[Năng lượng sạch]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://kinhtebatdongsan.vn/?p=993</guid>

					<description><![CDATA[Với lợi thế vị trí địa lý, Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo, không chỉ là điện gió, điện mặt trời, mà còn là điện sinh khối, địa nhiệt, điện thuỷ triều&#8230; LTS: Với vị trí địa lý nằm gần đường xích đạo và 3.000km bờ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="intro_hot mar_bottom15 desktop">
<p>Với lợi thế vị trí địa lý, Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo, không chỉ là điện gió, điện mặt trời, mà còn là điện sinh khối, địa nhiệt, điện thuỷ triều&#8230;</p>
</div>
<div id="content_detail">
<p><em><strong>LTS: Với vị trí địa lý nằm gần đường xích đạo và 3.000km bờ biển, Việt Nam được đánh giá là có lợi thế và tiềm năng rất lớn để phát triển năng lượng tái tạo, với hai lĩnh vực mũi nhọn là điện mặt trời và điện gió. Chủ trương khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) đã được Bộ Chính trị, Chính phủ khẳng định và thể hiện rõ qua nhiều văn bản. Thực tế, trong 3 năm trở lại, NLTT ở Việt Nam phát triển rất nhanh, và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu cung cấp điện trong nước. Tuy nhiên, quá trình phát triển có phần quá nóng cũng đã đặt ra nhiều vấn đề cần xử lý, nhằm hướng tới một thị trường phát triển bền vững. Từ hôm nay, Nhadautu.vn đăng tải loạt bài &#8220;Gỡ khó phát triển năng lượng tái tạo&#8221;.</strong></em></p>
<p><strong>Còn nhiều tiềm năng</strong></p>
<p>Theo số liệu của Viện Năng lượng, tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo ở nước ta là rất lớn. Trong đó tiềm năng điện gió trên bờ là 217GW, gồm khu vực gió cao là 24GW, gió trung bình là 30GW, chủ yếu tập trung Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Với điện gió offshore, tổng quy mô tiềm năng vào khoảng 160GW, trong đó 80GW nằm ở khu vực gió cao, tiềm năng kinh tế tốt ở Nam Trung Bộ.</p>
<p>Với điện mặt trời, tổng tiềm năng kỹ thuật là rất lớn, lên tới 1.646GW (1.569GW mặt đất và 77GW mặt nước), công suất khả thi có hiệu quả cao là 386GW, tập trung chủ yếu tại miền Nam, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tiềm năng điện áp mái toàn quốc lên tới 48GW, chủ yếu (22GW) nằm ở khu vực miền Nam.</p>
<p>Thực tế thời gian qua, với một loạt chính sách khuyến khích mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước, điện mặt trời cùng điện gió là hai loại hình phát triển nhanh nhất. Tới cuối năm 2020, điện mặt trời và điện gió đã chiếm tới 17.000MW, chiếm khoảng 1/4 tổng công suất hệ thống điện cả nước, trong đó điện gió khoảng 600MW, điện áp mái 7.780MW, còn lại khoảng 9.000MW là điện mặt trời.</p>
<p>Đây cũng là hai loại hình rất được nhà đầu tư quan tâm trong thời gian tới, với 12GW công suất điện gió đã bổ sung quy hoạch, dự kiến vận hành giai đoạn 2021-2025, tổng quy mô đăng ký nhưng chưa được bổ sung quy hoạch là 30GW. Với điện gió offshore, tới cuối năm ngoái có 36GW công suất được đăng ký nghiên cứu đầu tư. Với điện mặt trời, có 13GW công suất đã bổ sung quy hoạch và thêm 50GW xin bổ sung quy hoạch.</p>
<p>Về một số loại hình năng lượng tái tạo khác, do quy mô thị trường hẹp hơn đáng kể, nên không thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia. Với điện sinh khối, mặc dù đã có cơ chế hỗ trợ phát triển theo Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg ngày 24/3/2014. Mới đây, Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 08/2020 ngày 5/3/2020 sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định 24, trong đó đáng chú ý là nâng giá mua điện lên 7,03 &#8211; 8,47 UScents/kWh. Tuy nhiên, hiện này điện sinh khối mới có khoảng 500MW điện bã mía, chủ yếu phục vụ hoạt động cho một số nhà máy đường, ngoài ra có 100MW điện trấu và khoảng 600MW điện gỗ đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Quy mô tiềm năng phát triển của điện sinh khối khoảng 5GW, nguồn rác thải khoảng 1,5GW, nguồn địa nhiệt 460MW.</p>
<p>Các loại hình điện tái tạo khác, như địa nhiệt, thuỷ triều, khí sinh học tới nay gần như vẫn chưa được khai  thác, mới ở giai đoạn nghiên cứu sơ khai, chưa có những ứng dụng cụ thể cho sản xuất điện.</p>
<p><strong>Nhiều bất cập về phát triển điện gió, điện mặt trời</strong></p>
<p>Do quy mô thị trường, trong thời gian qua, đề cập đến năng lượng tái tạo ở Việt Nam chủ yếu nhắc đến điện mặt trời và điện gió, bởi đây là những loại hình năng lượng có tiềm năng cao nhất. Tuy nhiên, quá trình phát triển nóng trong 3 năm trở lại cũng đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết.</p>
<p><em>Thứ nhất, </em>NLTT thu hút nguồn vốn đầu tư lớn trong thời gian qua chủ yếu đến từ chính sách ưu đãi giá FIT. Tuy nhiên, các quyết định giá FIT lại có thời hạn rất ngắn, với điện mặt trời đã hết hiệu lực từ cuối năm ngoái, còn điện gió hết hiệu lực vào tháng 11/2021. Việc không có một chính sách thống nhất, xuyên suốt phát triển trung và dài hạn khiến nhà đầu tư khó lòng yên tâm. Thực tế hiện nay, tín dụng ngân hàng chiếm tới 70-80% tổng mức đầu tư dự án; chính sách thiếu tính ổn định khiến NLTT trở nên rủi ro hơn đáng kể, và không khuyến khích tín dụng tài trợ vào lĩnh vực này.</p>
<p><em>Thứ hai,</em> nhiều quy định pháp luật mâu thuẫn, làm khó nhà đầu tư, ví dụ:</p>
<p>Về điện gió, theo quy định về hồ sơ hoàn thuế của dự án điện gió hiện nay của Tổng cục Thuế, chủ đầu tư cần có “giấy phép hoạt động điện lực”. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 7, Thông tư 21/2020/TT-BCT ngày 9/9/2020 của Bộ Công Thương, thời điểm dự án có đủ điều kiện để cấp giấy phép sẽ gần trùng với thời điểm dự án đi vào hoạt động, có doanh thu.</p>
<p>Ở chiều ngược lại, khoản 3 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính quy định, khi dự án đi vào hoạt động, tức là hết giai đoạn đầu tư xây dựng thì không được hoàn thuế GTGT.</p>
<p>Hai quy định trái ngược nhau này khiến các chủ đầu tư lo ngại không được hoàn thuế giá trị gia tăng.</p>
<p>Về điện mặt trời áp mái, theo Bộ Tài nguyên Môi trường, các khu công nghiệp muốn lắp đặt điện mặt trời mái nhà phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM).</p>
<p>Các doanh nghiệp cho rằng quy định này là không đúng luật và không khuyến khích phát triển điện áp mái theo chủ trương của Đảng, Nhà nước.</p>
<p>Cụ thể, Điều 15 Nghị định 40/2019/NĐ-CP có quy định, các dự án phải lập lại ĐTM chỉ bao gồm trường hợp bổ sung vào khu công nghiệp ngành nghề đầu tư thuộc các loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường quy định tại nhóm I và nhóm II Phụ lục IIa Mục I Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.</p>
<p>Tuy nhiên, danh mục các loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại Phụ lục IIa chỉ bao gồm loại hình nhiệt điện than và điện hạt nhân (Nhóm I) mà không bao gồm loại hình sản xuất điện năng lượng tái tạo nào (bao gồm cả điện năng lượng mặt trời).</p>
<p>Tại Phụ lục II, các dự án quang điện (bao gồm điện mặt trời áp mái nhà) có diện tích từ 50 ha đến dưới 200 ha thuộc đối tượng phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường và trên diện tích từ 200 ha trở lên thuộc đối tượng phải lập ĐTM.</p>
<p>Có nghĩa rằng các dự án thực hiện trên diện tích từ 200 ha trở lên mới phải lập ĐTM.</p>
<p><em>Thứ ba,</em> việc cấp phép ồ ạt cho các dự án NLTT chạy giá FIT khiến nguồn cung tăng lên nhanh chóng, vượt quá khung cho phép tại Quy hoạch điện VII điều chỉnh, dẫn tới quá tải hệ thống lưới điện, và thừa phụ tải ở thời gian thấp điểm trong ngày. Thực tế thời gian qua, EVN đã phải giảm phát nhiều dự án nhiệt điện và thuỷ điện để nhường khung giờ cao điểm cho NLTT. Điều này tạo ra mâu thuẫn lợi ích và nhiều công ty điện truyền thống phản đối. Bản thân các doanh nghiệp NLTT cũng chịu thiệt hại khi EVN vừa qua cho biết cắt giảm 1,7 tỷ KWh từ điện gió và điện mặt trời trong năm nay.</p>
<p>Thứ tư, với suất đầu tư 0,6 &#8211; 1 triệu USD/ MW công suất điện mặt trời, các nhà đầu tư đã bỏ ra nhiều tỷ USD để đầu tư các nhà máy với tổng công suất 16.000MW đã nối lưới. Khoản tiền này chủ yếu dùng để mua pin, thiết bị từ nước ngoài, phần lớn là Trung Quốc. Với tầm nhìn đẩy mạnh phát triển NLTT, cần đặt ra vấn đề khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất thiết bị phục vụ NLTT, nhằm không để thị trường trị giá hàng chục tỷ USD rơi vào nước ngoài.</p>
<p>Thứ năm, còn thiếu các quy chuẩn, tiêu chuẩn dùng các công nghệ năng lượng tái tạo, gây nhiều khó khăn cho chủ đầu tư các dự án, cũng như cho các cơ quan quản lý nhà nước. Khi chưa có các tiêu chuẩn, chủ đầu tư phải áp dụng theo tiêu chuẩn của quốc gia cung cấp thiết bị. Trường hợp chọn tiêu chuẩn thấp có thể dẫn đến ảnh hưởng đến môi trường và chất lượng điện năng; phải thay thế, nâng cấp khi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia cao hơn tiêu chuẩn đã chọn. Ngược lại, nếu chọn tiêu chuẩn quá cao, dẫn đến tăng giá thiết bị, dự án không cạnh tranh được với các dự án khác cùng loại, hoặc ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp.</p>
<blockquote><p><strong>Nguồn: Hoa Hạ/ Nhà đầu tư </strong></p>
<p><strong>Link bài gốc: https://nhadautu.vn/go-kho-phat-trien-nang-luong-tai-tao&#8211;bai-1-buc-tranh-toan-canh-d53646.html</strong></p></blockquote>
<p>&nbsp;</p>
</div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
